Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tồ chức Ngày sách và Văn hóa đọc Việt Nam
Đại Việt sử ký toàn thư

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Đỗ Thị Tuyền
Ngày gửi: 21h:58' 03-11-2024
Dung lượng: 5.0 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Đỗ Thị Tuyền
Ngày gửi: 21h:58' 03-11-2024
Dung lượng: 5.0 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
nhiều tác giả
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Mục Lục
LỜI GIỚI THIỆU
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Đại cương
Ngoại Kỷ Toàn Thư Q 1
Ngoại Kỷ Toàn Thư Q 2
Ngoại Kỷ Toàn Thư Q 3
Ngoại Kỷ Toàn Thư Q 4
Ngoại Kỷ Toàn Thư Q 5
Bản Kỷ Toàn Thư Q 1(a)
Bản Kỷ Toàn Thư Q 1(b)
Bản Kỷ Toàn Thư Q2(a)
Bản Kỷ Toàn Thư Q2(b)
Bản Kỷ Toàn Thư Q3(a)
Bản Kỷ Toàn Thư Q3(b)
Bản Kỷ Toàn Thư Q4(a)
Bản Kỷ Toàn Thư Q4(b)
Bản Kỷ Toàn Thư Q5(a)
Bản Kỷ Toàn Thư Q5(b)
Bản Kỷ Toàn Thư Q5(c)
Bản Kỷ Toàn Thư Q6(a)
Bản Kỷ Toàn Thư Q6(b)
Bản Kỷ Toàn Thư 7
Bản Kỷ Toàn Thư Q8
Bản Kỷ Toàn Thư Q9
Bản Kỷ Toàn Thư Q10 (a)
Bản Kỷ Toàn Thư Q10 (b)
https://thuviensach.vn
Bản kỷ thực lục Q1(a)
Bản kỷ thực lục Q1(b)
Bản kỷ thực lục Q2(a)
Bản kỷ thực lục Q2(b)
Bản kỷ thực lục Q3(a)
Bản kỷ thực lục Q3(b)
Bản kỷ thực lục Q4
Bản kỷ thực lục Q5(a)
Bản kỷ thực lục Q5(b)
Bản kỷ thực lục Q6
Bản Kỷ Tục Biên Q1 (a)
Bản Kỷ Tục Biên Q1 (b)
Bản Kỷ Tục Biên Q2
Bản Kỷ Tục Biên Q3
Bản Kỷ Tục Biên Q4
Bản Kỷ Tục Biên Q5
Bản Kỷ Tục Biên Q6
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
Mục Lục
Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên... soạn thảo (1272 - 1697).
Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam dịch (1985 - 1992).
Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội (Hà Nội) ấn hành (1993).
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
LỜI GIỚI THIỆU
Nguyễn Khánh Toàn
Một dân tộc có nền văn hóa lâu đời bao giờ cũng trọng thị, giữ gìn coi như
thiêng liêng những di tích của nó, đặc biệt là dấu tích của những sự nghiệp
anh hùng và quang vinh của ông cha, nòi giống, những gì nhắc lại những
kỳ công của các bậc tiền bối trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, vì đời
sống ấm no, hạnh phúc của các thế hệ đã qua.
Về phương diện ấy, những cái gọi là di sản văn hóa, tuy thuộc về quá khứ
của một dĩ vảng không bao giờ trở lại, nhưng nó vẫn sống bởi vì những cái
chúng ta làm hôm nay, trong đời sống vật chất cũng như trong đời sống tinh
thần, là tiếp tục cái hôm qua.
Trong các loại di sản văn hóa của dân tộc, hiện nay chúng ta cần đặc biệt
quan tâm đến các loại sách cổ về đất nước và con người, về văn hóa, xã
hội, nhất là về lịch sử nước ta.
Có sự mâu thuẫn lạ đời này, là dân tộc ta có một lịch sử lâu đời với một nền
văn hóa độc đáo mà nhân dân ta từ bao đời, với bàn tay và khối óc của
mình, đã tự xây dựng lấy, nhưng chỉ cách đây tám, chín trăm năm, mới có
người Việt viết về lịch sử đất nước mình. Còn trước đó, trong các sách của
người Tàu viết, chỉ thỉnh thoảng họ mới nói đến cái đất nước của một dân
tộc "man di" gọi là Giao chỉ, một mảnh đất hầu như hoang vu, con người
còn sống sơ khai, cần phải được "Thiên Triều" "giáo hóa".
Vì thế mà trong suốt cả một thời gian lịch sử rất dài - hai, ba nghìn năm,
dân tộc Việt Nam phải liên tục đấu tranh chống họa xâm lược của nước
ngoài. Chíh trong cuộc đấu tranh đầy hy sinh gian khổ, nhưng anh hùng bất
khuất ấy mà dân tộc ta xây dựng và phát triển nền văn hóa độc đáo và xán
lạn của mình, tiêu biểu là nền văn hóa Đại Việt thời Lý, Trần, Lê.
Cho nên, rất dễ hiều, cách đây tám, chín trăm năm, khi lịch sử nước ta đi
vào kỷ nguyên Đại Việt, xuất hiện những nhà sử học lớn như Lê Văn Hưu,
Ngô Sĩ Liên.
https://thuviensach.vn
Đối với thời kỳ lừng danh như thời Đại Việt, nó là cả một bản anh hùng ca,
cái gì có liên quan đến nó, dẫu là một câu, một dòng chữ tự tay nhân vật đã
sống hoặc đã chứng kiến những giờ phút huy hoàng viết ra, mà ta được đọc
hay được nghe, đều là tiếng nói thân thiết từ ngàn xưa vọng lại, làm rung
động tâm hồn của chúng ta biết bao.
Cho nên, việc đáng mừng là chúng ta đã tìm lại đợc bản in xưa nhất của bộ
Đại Việt sử ký toàn thư. Đó là bản in theo ván khắc năm Chính Hoà thứ 18,
tức năm 1697, mà trước đây tưởng như không hy vọng tìm thấy. Còn những
bản in chúng ta vẫn thường dùng là những bản in sau đó, vào đời Nguyễn.
Đại Việt sử ký toàn thư là một thành tựu của nền văn hóa Đại Việt. Nó là
một công trình biên soạn lịch sử đồ sộ của nhiều nhà sử học nổi tiếng của
nước ta, từ Lê Văn Hưu đời Trần, qua Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, đến
Phạm Công Trứ, Lê Hy đời Lê.
Bộ sự được đặt cơ sở đầu tiên với Đại Việt sử ký toàn thư 30 quyền của Lê
Văn Hưu, viết xong năm 1272, trong thời kỳ chiến đấu oanh liệt chống
quân xâm lược Mông - Nguyên. Nó được tiếp tục với Phan Phu Tiên, Ngô
Sĩ Liên thế kỷ XV, trong giai đoạn phát triển cao nhất của nền văn hóa Đại
Việt, giao đoạn của vũ công chống Minh, của Đại Cáo Bình Ngô, của chủ
nghĩa yêu nước hoàn chỉnhv à tiên tiến của Nguyễn Trãi. Nó được hoàn
thành và công bố năm 1697, biên chép lịch sử dân tộc từ buổi đầu dựng
nước cho đến năm 1675.
Một công trình sử học được xây dựng trong bối cảnh lịch sử như thế hẳn
mang hơi thở của thời đại, phản ánh được tương đối chính xác và đầy đủ
thực tế hào hùng của đất nước. Và điều chắc chắn, nó là kho tư liệu phong
phú không những cần thiết cho ngành sử học mà còn giúp ích cho nhiều
ngành khoa học xã hội khác nữa.
Bộ Đại Việt sử ký toàn thư là một di sản vô giá của văn hóa dân tộc.
Tôi xin trân trọng giới thiệu với các nhà khoa học trong và ngoài nước, với
tất cả bạn đọc, bản dịch Đại Việt sử ký toàn thư dựa trên ván khắc năm
1697 kèm theo chú giải, sách dẫn và bản chụp nguyên văn chữ Hán.
Tôi hy vọng công trình xuất bản này sẽ đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu
của các nhà sử học, các nhà khoa học thuộc nhiều ngành khoa học xã hội
https://thuviensach.vn
trong nước, các nhà Việt Nam học trên thế giới và tất cả những ai muốn tìm
hiểu nghiên cứu lịch sử Việt Nam.
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Năm 1967, Nhà xuất bản Khoa Học xã hội đã xuất bản bộ Đại Việt sử ký
toàn thư gồm 4 tập do nhà Hán học Cao Huy Giu dịch và Giáo sư Đào Duy
Anh hiệu đính. Đó là một bộ sử lớn, có giá trị, được biên soạn qua nhiều
đời, gắn liền với tên tuổi của những nhà sử học nổi tiếng ngày xưa như Lê
Văn Hưu thế kỷ XIII, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên thế kỷ XV, Phạm Công
Trứ, Lê Hy thế kỷ XVII.
Năm 1971, bộ sử đó được tái bản lần thứ hai, có sửa chữa và bổ sung. Sau
đó một thời gian, nhiều bạn đọc yêu thích lịch sử dân tộc, nhiều nhà sử học,
nhiều cán bộ nghiên cứu và giảng dạy thuộc nhiều ngành, nhiều cơ quan đã
yêu cầu chúng tôi tái bản lần thứ ba bộ sử ấy.
Giữa lúc đó thì Giáo sư sử học Phan Huy Lê, sau chuyến đi công tác ở
Pháp về, cho chúng tôi biết việc phát hiện ra bản in xưa nhất của bộ Đại
Việt sử ký toàn thư, bản Nội các quan bản, và vui lòng cho chúng tôi sử
dụng bản sao chụp bản in ấy do Giáo sư đem về nước. Đấy là bản in theo
ván khắc năm Chính Hoà thứ 18, tức năm 1697, còn được lưu giữ tại Thư
viện của Hội Á Châu ở Paris.
Năm 1985, theo đề nghị của Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, bà C.
Rageau, Giám đốc Thư Viện Trường Viễn Đông bác cổ (EFFO), đã đem
sang tặng Việt Nam bộ vi phim (microfilm) bản in Nội các quan bản của
Đại Việt sử ký toàn thư đang lưu giữ ở Paris và đồng ý cho Việt Nam được
toàn quyền sử dụng văn bản này.
Chúng tôi đã báo cáo lên Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Khoa
học xã hội Việt Nam hiện nay) và đề nghị cho tổ chức nghiên cứu, phiên
dịch và xuất bản kịp thời bộ Đại Việt sử ký toàn thư căn cứ trên bản in Nội
các quan bản được in từ ván khắc năm Chính Hoà 18 (1697). Sau khi đề
nghị trên được chấp nhận, một Hội đồng chỉ đạo đã được thành lập, gồm:
https://thuviensach.vn
Chủ tịch:
- Giáo sư Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn
Ủy viên:
- Giáo sư sử học Phan Huy Lê,
- Giám đốc kiêm Tổng biên tập Nhà xuất bản Khoa học xã hội Phạm Hựu
Sau khi ông Phạm Hựu nghỉ hưu, ông Nguyễn Đức Diệu giữ chức Giám
đốc kiêm Tổng biên tập Nhà xuất bản Khoa học xãhội đã tham gia Hội
đồng chỉ đạo với cương vị ủy viên thay thế ông Phạm Hựu.
Đại Việt sử ký toàn thư là một bộ sử có giá trị về nhiều mặt, là một di sản
qúy báu của nền văn hoá dân tộc. Dưới sự chỉ đạo của Hội đồng, chúng tôi
thấy có nhiệm vụ phải cố gắng làm sao để cho công trình xuất bản này
xứng đáng với vị trí và giá trị của bộ sử. Về mặt phiên dịch, chúng tôi có
tham khảo và kế thừa bản dịch cũ, nhưng phải dịch lại trực tiếp từ văn bản
mới phát hiện. Chúng tôi cũng mong muốn bản dịch mới tiếp thu những
thành tựu mới về ngôn ngữ tiếng Việt và dịch thuật chữ Hán trong thời gian
gần đây, vừa tôn trọng ở mức độ cao nhất nội dung và phong cách của bộ
sử đã ra đời cách đây gần 300 năm, vừa làm cho bạn đọc dù không biết chữ
Hán vẫn hiểu đợc nội dung bộ sử đến mức tốt nhất.
Công trình xuất bản Đại Việt sử ký toàn thư gồm 4 tập:
Tập I gồm Lời Nhà xuất bản Khoa học xãhội, Lời giới thiệu của Giáo sư
Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn, bài Khảo cứu về "Đại Việt sử ký toàn thư: tác
giả - văn bản - tác phẩm" của Giáo sư Phan Huy Lê và bản dịch phần đầu
Đại Việt sử ký toàn thư gồm Quyển thủ, Ngoại kỷ Q. 1 - 5, Bản kỷ Q 1 - 4,
do nhà nghiên cứu Hán Nôm Ngô Đức Thọ dịch, chú giải, và Giáo sư Hà
Văn Tấn hiệu đính.
https://thuviensach.vn
Tập II gồm phần dịch và chú giải Bản kỷ Q.5 - 13 do nhà nghiên cứu Hán
Nôm Hoàng Văn Lâu dịch, Giáo sư Hà Văn Tấn hiệu đính.
Tập III gồm phần dịch và chú giải Bản kỷ Q.14 - 19 do nhà nghiên cứu Hán
Nôm Hoàng Văn Lâu dịch, Giáo sư Hà Văn Tấn hiệu đính và phần Phụ lục
với bản dịch Đại Việt sử ký tục biên Q.20 - 21 của Phạm Công Trứ do nhà
nghiên cứu Hán Nôm Ngô Thế Long thực hiện và Sách dẫn để tra cứu do
Bộ môn phương pháp luận sử học thuộc Khoa sử Trường Đại học tổng hợp
Hà Nội thực hiện.
Tập IV in lại bản chụp nguyên văn chữ Hán bản in Nội các quan bản bộ
Đại Việt sử ký toàn thư.
Tập I đã xuất bản năm 1983, tập II năm 1985, trong điều kiện ấn loát chưa
được tốt lắm. Vì vậy, theo quyết định của Hội đồng chỉ đạo, năm 1992
chúng tôi in lại tập I, tập II có sửa chữa và in tiếp tập III, IV.
Nhà xuất bản Khoa học xã hội xin trân trọng và vui mừng giới thiệu với
bạn đọc công trình xuất bản bộ Đại Việt sử ký toàn thư.
Nhân đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Hội đồng chỉ đạo do Giáo sư
Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn làm Chủ tịch, cảm ơn sự tin cậy và cộng tác
tích cực của Giáo sư Phan Huy Lê, Giáo sư Hà Văn Tấn, sự làm việc hết
lòng của các nhà nghiên cứu Hán Nôm Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu,
Ngô Thế Long và các cán bộ biên tập Lê Văn Quýnh, Nguyễn Duy Chiếm.
Cũng nhân dịp bộ Đại Việt sử ký toàn thư ra mắt, chúng tôi xin trân trọng
cảm ơn Thư viện Hội Á Châu, Trường Viễn Đông bác cổ, Trường Đại học
Paris VII, Hội Khoa học xã hội của người Việt Nam tại Pháp và Giáo sư sử
học lão thành Hoàng Xuân Hãn, nhà nghiên cứu Hán Nôm Tạ Trọng Hiệp,
các nhà khoa học người Việt Nam tại Pháp ở Paris trước đây đã nhiệt tình
giúp đỡ Giáo sư Phan Huy Lê trong việc nghiên cứu và sao chụp bản Đại
Việt sử ký toàn thư ở Pháp, nay tiếp tục giúp đỡ chúng tôi trong việc chụp
lại và công bố văn bản đó, chúng tôi trân trọng cảm ơn bà Vân Bùi Mộng
Hùng, Giám đốc Nhà xuất bản Chân Mây Médiapoly đã hết lòng cộng tác
giúp đỡ chúng tôi sao chụp và thu nhỏ, làm chế bản in Nội các quan bản bộ
Đại Việt sử ký toàn thư để xuất bản tập IV.
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam, nhà
https://thuviensach.vn
thơ Cù Huy Cận đã quan tâm giúp đỡ chúng tôi và đặc biệt trân trọng cảm
ơn ông Tổng Giám đốc UNESCO (Paris) đã tài trợ cho công trình xuất bản
bộ Đại Việt sử ký toàn thư này, nhằm bảo vệ và phát huy một di sản quý giá
của nền văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam.
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
Đại cương
TÁC GIẢ - VĂN BẢN - TÁC PHẨM
PHAN HUY LÊ
I. QUÁ TRÌNH BIÊN SOẠN VÀ TÁC GIẢ
Bộ Đại Việt sử ký toàn thư còn lại đến ngày nay là một bộ Quốc sử lớn, có
giá trị, lần đầu tiên được khắc in toàn bộ và công bố vào năm Đinh Sửu,
niên hiệu Chính Hoà thứ 18, triều Lê Hy Tông, tức năm 1697. Trong lời tựa
của lần xuất bản đó - gọi là Tựa Đại Việt sử ký tục biên - nhóm biên soạn
đứng đầu là Tham tụng, Hình bộ thượng thư tri Trung thư giám Lê Hy, cho
biết bộ Quốc sử này là kết quả của một quá trình biên soạn, tu bổ qua nhiều
đời: "Nước Việt ta, sử ký các đời do các tiên hiền Lê Văn Hưu, Phan Phu
Tiên làm ra trước, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh soạn tiếp sau, đến đời Lê Huyền
Tông (1663 - 1671) sai bọn tể thần Phạm Công Trứ tham khảo sử cũ như sử
ký ngoại kỷ, Bản kỷ toàn thư, Bản kỷ thực lục đều y theo danh lệ của các
sử trước, lại tham xét biên soạn từ quốc triều Trang Tông Dụ Hoàng đế
(1533 - 1548) "sai bọn khảo thần khảo đính sử cũ, chỗ nào sai thì sửa lại,
chỗ nào đúng thì chép lấy Lại sưu tầm sự tích cũ, tham khảo các dã sử, loại
biên, [biên sọan] từ Huyền Tông Mục Hoàng Đế năm Đức Nguyên thứ 2
(1675), tất cả sự thực trong 13 năm, cũng gọi là Bản kỷ tục biên. Sách làm
xong, dâng lên ngự lãm, bèn sai thợ khắc in, ban bố trong thiên hạ" (Quyển
thủ, Đại Việt sử ký tục biên tự, 1b - 3b).
Như vậy, bộ Đại Việt sử ký toàn thư là một công trình tập đại thành nhiều
bộ sử do nhiều nhà sử học của các đời biên soạn, từ Lê Văn Hưu đời Trần,
qua Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh đời Lê sơ, đến Phạm Công
Trứ, Lê Hy đời Lê Trung hưng, cùng những người cộng sự với họ. Theo
bản in từ ván khắc năm Chính Hoà 18 (1697) mang danh hiệu bản in Nội
các quan bản - từ đây gọi tắt là bản Chính Hoà - bộ sử này gồm quyển thủ
24 quyển, biên chép một cách hệ thống lịch sử dân tộc từ họ Hồng Bàng
đến năm 1675.
https://thuviensach.vn
Bố cục của bộ sử như sau:
Quyển thủ: gồm các Lời tựa của Lê Hy, Phạm Công Trứ, Ngô Sĩ
Liên, Biểu dâng sách của Ngô Sĩ Liên, Phạm lệ, Kỷ niên mục lục và
bài Việt giám thông khảo tổng luận của Lê Trung.
Ngoại kỷ: gồm 5 quyển, từ họ Hồng Bàng đến các Sứ quân.
Quyển 1: kỷ họ Hồng Bàng, kỷ họ Thục
Quyển 2: kỷ họ Triệu
Quyển 3: kỷ thuộc Tây Hán, kỷ Trưng Nữ Vương, kỷ thuộc Đông
Hán, kỷ Sĩ Vương
Quyển 4: kỷ thuộc Ngô-Tấn-Tống-Tề-Lương, kỷ tiền Lý kỷ Triệu
Việt vương, kỷ Hậu lý
Quyển 5: kỷ thuộc Tùy - Đường, ký họ Ngô
Bản kỷ: gồm 19 quyển, từ triều đình đến năm 1675.
Quyển 1: kỷ nhà Đinh, kỷ nhà Lê
Quyển 2: kỷ nhà Lý: Thái Tổ, Thái Tông
Quyển 3: Thánh Tông, Nhân Tông
Quyển 4: Anh Tông, Cao Tông, Huệ Tông, Chiêu Hoàng
Quyền 5: kỷ nhà Trần, Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông
Quyển 6: Anh Tông, Minh Tông
Quyển 7: Hiến Tông, Dụ Tông, Nghệ Tông, Duệ Tông
Quyển 8: Phế Đế, Thuận Tông, Thiếu Đế, Hồ Quý Ly, Hồ Hán
Thương
Quyển 9: kỷ Hậu Trần, kỷ thuộc Minh
Quyển 10: kỷ Lê Hoàng Triều: Thái Tổ
Quyển 11: Thái Tông, Nhân Tông
Quyển 12: Thánh Tông (thượng)
Quyển 13: Thánh Tông (hạ)
https://thuviensach.vn
Quyển 14: Hiến Tông, Túc Tông, Uy Mục
Quyển 15: Tương Dực, Đà Vương, Cung Hoàng, Mạc Đăng
Dung, Mạc Đăng Khanh
Quyển 16: Trang Tông, Trung Tông, Anh Tông, Mạc Đăng
Doanh đến Mạc Mậu Hợp
Quyển 17: Thế Tông, Mạc Mậu Hợp
Quyển 18: Kính Tông, Chân Tông, Thần Tông
Quyển 19: Huyền Tông, Gia Tông
19 quyển Bản kỷ lại chia làm 3 phần:
Bản kỷ toàn thư: từ quyền 1 đến quyển 10
Bản kỷ thực lục: từ quyển 11 đến quyển 15
Bản kỷ tục biên: từ quyển 16 đến quyển 19
Bộ Đại Việt sử ký toàn thư với bố cục như trên đã được hoàn thành,
khắc in và công bố vào năm 1697.
Một vấn đề khoa học được đặt ra là quá trình biên soạn từ Lê Văn Hưu
đến Lê Hy diễn ra như thế nào, những ai đã tham gia vào công trình
đó, đóng góp của mỗi người (haymỗi nhóm) ra sao và để lại dấu ấn gì
trong bộ quốc sử cón lại đến ngày nay?
Muốn giải đáp vấn đề trên, chúng ta hãy lấy bộ Đại Việt sử ký toàn
thư đời Chính Hoà làm cơ sở và ngược dòng thời gian, nghiên cứu
những bộ sử tiền thân của nó, bắt đầu từ Đại Việt sử ký của Lê Văn
Hưu đời Trần.
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
Ngoại Kỷ Toàn Thư Q 1
Hồng Bàng, An Dương Vương
[1a] Triều Liệt Đại Phu, Quốc Tử Giám Tư Nghiệp, Kiêm Sử Quan Tu
Soạn, Thần Ngô Sĩ Liên Biên
Xét: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây
Nam, xa ngoài đất Bách Việt. Vua Nghiêu sai Hy thị1đến ở Nam Giao2để
định đất Giao Chỉ ở phương Nam. Vua Vũ chia chín châu3thì Bách
Việt4thuộc phần đất châu Dương, Giao Chỉ thuộc về đấy. Từ đời Thành
Vương nhà Chu [1063-1026 TCN] mới gọi là Việt Thường thị5, tên Việt bắt
đầu có từ đấy.
Kỷ Hồng Bàng Thị
Kinh Dương Vương
[1b] Tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông6.
Nhâm Tuất, năm thứ 17. Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế
Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ
Lĩnh8lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua [Kinh Dương Vương]. Vua là bậc
thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố
nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con
nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương,
cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.
Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long9sinh ra Lạc Long Quân
(Xét: Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng
là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết
thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động
Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi).
Lạc Long Quân
[2a] Tên húy là Sùng Lãm, con của Kinh Dương Vương.
Vua lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh
https://thuviensach.vn
trăm trứng), là tổ của Bách Việt. Một hôm, vua bảo Âu Cơ rằng: "Ta là
giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó".
Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền
Nam (có bản chép là về Nam Hải), phong cho con trưởng làm Hùng
Vương, nối ngôi vua.
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Khi trời đất mới mở mang, có thứ do khí hóa ra,
đó là Bàn Cổ thị. Có khí hóa ra rồi sau có hình hóa, không thứ gì ngoài hai
khí âm dương cả. Kinh Dịch nói: "Trời đất nung ủ, vạn vật thuần hóa, đực
cái hợp tinh, vạn vật hóa sinh"10. Cho nên có vợ chồng rồi sau mới có cha
con, có cha con rồi sau mới có vua tôi. [2b] Nhưng thánh hiền sinh ra, tất
có khác thường, đó là do mệnh trời. Nuốt trứng chim huyền điểu mà sinh ra
nhà Thương11, giẫm vết chân người khổng lồ mà dấy nhà Chu12, đều là ghi
sự thực như thế. Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên
mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt. Vương lấy con
gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai
mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ
nghiệp của nước Việt ta hay sao? Xét sách Thông Giám Ngoại kỷ (4)13nói:
Đế Lai là con Đế Nghi; cứ theo sự ghi chép ấy thì Kinh Dương Vương là
em ruột Đế Nghi, thế mà kết hôn với nhau, có lẽ vì đời ấy còn hoang sơ, lễ
nhạc chưa đặt mà như thế chăng?
Hùng Vương
[3a] Con Lạc Long Quân (không rõ tên húy)14, đóng đô ở Phong Châu (nay
là huyện Bạch Hạc)15.
Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (nước này đông giáp biển
Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn,
tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam), chia nước làm 15 bộ là: Giao
Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền,
Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức;
đều là đất thần thuộc của Hùng Vương; còn bộ gọi là Văn Lang là nơi vua
đóng đô16. Đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng (chữ
Lạc Tướng, sau chép sai là Hùng Tướng17). Con trai vua gọi là Quan Lang,
https://thuviensach.vn
con gái vua gọi là Mị Nương. Quan coi việc gọi là Bồ Chính, đời đời cha
truyền con nối, gọi là phụ đạo. Vua các đời đều gọi là Hùng Vương. Bấy
giờ dân ở rừng núi thấy ở sông ngòi khe suối đều có tôm cá, nên rủ nhau đi
bắt cá để ăn, thường bị thuồng luồng làm hại, [3b] đến thưa với vua. Vua
nói: "Người man ở núi khác với các loài thủy tộc; các thủy tộc ấy ưa cùng
loài mà ghét khác loài, cho nên mới bị chúng làm hại. Rồi vua bảo mọi
người lấy mực vẽ hình thủy quái ở mình. Từ đấy thuồng luồng trông thấy
không cắn hại nữa. Tục vẽ mình của người Bách Việt có lẽ bắt đầu từ đấy.
Đời Hùng Vương thứ 6, ở hương Phù Đổng, bộ Vũ Ninh có người nhà
giàu, sinh một con trai, đến năm hơn ba tuổi ăn uống béo lớn nhưng không
biết nói cười. Gặp lúc trong nước có tin nguy cấp, vua sai người đi tìm
người có thể đánh lui được giặc. Ngày hôm ấy, đứa trẻ bỗng nói được, bảo
mẹ ra mời thiên sứ vào, nói: "Xin cho một thanh gươm, một con ngựa, vua
không phải lo gì". Vua ban cho gươm và ngựa, đứa trẻ liền phi ngựa vung
gươm tiến lên trước, quan quân theo sau, đánh tan quân giặc ở chân núi Vũ
Ninh18. Quân giặc tự quay giáo đánh lẫn nhau, chết rất nhiều, bọn sống sót
đều rạp lạy, tôn gọi đứa trẻ ấy là thiên tướng, liền đến xin hàng cả. Đứa trẻ
phi ngựa [4a] lên trời mà đi. Vua sai sửa sang chỗ vường nhà của đứa trẻ để
lập đền thờ, tuế thời cúng tế. Về sau, Lý Thái Tổ phong là Xung Thiên
Thần Vương. (Đền thờ ở cạnh chùa Kiến Sơ, hương Phù Đổng).
Thời Thành Vương nhà Chu [1063-1026 TCN], nước Việt ta lần đầu sang
thăm nhà Chu (không rõ vào đời Hùng Vương thứ mấy), xưng là Việt
Thường thị, hiến chim trĩ trắng. Chu Công nói: "Chính lệnh không ban đến
thì người quân tử không coi người ta là bề tôi của mình", rồi sai làm xe chỉ
nam đưa sứ giả về nước.
Cuối thời Hùng Vương, vua có con gái gọi là Mị Nương, nhan sắc xinh
đẹp. Thục Vương nghe tiếng, đến cầu hôn. Vua muốn gả, nhưng Hùng hầu
can rằng: "Họ muốn chiếm nước ta, chỉ lấy việc hôn nhân làm cớ mà thôi".
Thục Vương vì chuyện ấy để bụng oán giận. Vua muốn tìm người xứng
đáng để gả, bảo các bề tôi rằng: "Đứa con gái này là giống tiên, người nào
có đủ tài đức mới cho làm rể". Bấy giờ có hai người từ ngoài đến, lạy dưới
https://thuviensach.vn
sân để cầu hôn. Vua lấy làm lạ, hỏi thì họ thưa rằng một người là [4b] Sơn
Tinh, một người là Thủy Tinh, đều ở trong cõi cả, nghe nhà vua có thánh
nữ, đánh bạo đến xin lĩnh mệnh. Vua nói: "Ta có một người con gái, lẽ nào
lại được cả hai rể hiền?". Bèn hẹn đến ngày hôm sau, ai đem đủ sính lễ đến
trước thì gả cho người ấy. Hai người vâng lời, lạy tạ ra về. Hôm sau, Sơn
Tinh đem các đồ châu báu vàng bạc, chim núi thú rừng đến dâng. Vua y
hẹn gả con cho. Sơn Tinh đón vợ về ở ngọn núi cao trên núi Tản Viên.
Thủy Tinh cũng đem sính lễ đến sau, giận tiếc là không kịp, bèn kéo mây
làm mưa, dâng nước tràn ngập, đem các loài thủy tộc đuổi theo. Vua cùng
Sơn Tinh lấy lưới sắt chăng ngang thượng lưu sông Từ Liêm19để chặn lại.
Thủy Tinh theo sông khác, từ Ly Nhân vào chân núi Quảng Oai20rồi theo
dọc bờ lên cửa sông Hát, ra sông lớn21mà rẽ vào sông Đà để đánh Tản
Viên, nơi nơi đào sâu thành vực thành chằm, chứa nước để mưu đánh úp.
Sơn Tinh có phép thần biến hóa, gọi [5a]22người man đan tre làm rào chắn
nước, lấy nỏ bắn xuống, các loài có vẩy và có vỏ trúng tên đều chạy trốn
cả. Rốt cuộc Thủy Tinh không thể xâm phạm được núi Tản Viên. (Tục
truyền Sơn Tinh và Thủy Tinh từ đấy về sau đời đời thù oán, mỗi năm mùa
nước to thường vẫn đánh nhau).
Núi Tản Viên là dãy núi cao của nước Việt ta, sự linh thiêng rất ứng
nghiệm. Mị Nương đã lấy Sơn Tinh, Thục Vương tức giận, dặn lại con
cháu phải diệt Văn Lang mà chiếm lấy nước. Đến đời cháu là Thục Phán có
dũng lược, bèn đánh lấy nước.
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Thời Hùng Vương đặt chư hầu để làm phên giậu,
chia nước làm 15 bộ. Ở 15 bộ ấy đều có trưởng và tá. Vua theo thứ bậc cắt
đặt các con thứ để cai trị. Nói 50 con theo mẹ về núi, làm sao biết không
phải là như thế? Vì mẹ làm quân trưởng, các con đều làm chúa một
phương. Cứ xem như tù trưởng người man ngày nay xưng là nam phụ đạo,
[5b] nữ phụ đạo (nay bản triều đổi chữ phụ đạo ___ ___ thành chữ phụ đạo
___ ___ thì có lẽ đúng như thế). Còn như việc Sơn Tinh, Thủy Tinh thì rất
là quái đản, tin sách chẳng bằng không có sách, hãy tạm thuật lại chuyện cũ
để truyền lại sự nghi ngờ thôi).
https://thuviensach.vn
Trở lên là [kỷ] Hồng Bàng thị, từ Kinh Dương Vương được phong năm
Nhâm Tuất, cùng thời với Đế Nghi, truyền đến cuối thời vua Hùng Vương,
ngang với đời Noãn Vương nhà Chu năm thứ 57 [258 TCN] là năm Quý
Mão thì hết, tất cả 2.622 năm [2879 - 258 TCN].
Kỷ Nhà Thục
An Dương Vương
Họ Thục, tên húy là Phán, người Ba Thục23, ở ngôi 50 năm, đóng đô ở
Phong Khê (nay là thành Cổ Loa).
[6a] Giáp Thìn, năm thứ 1 [257 TCN], (Chu Noãn Vương năm thứ 58). Vua
đã thôn tính được nước Văn Lang, đổi quốc hiệu là Âu Lạc. Trước kia vua
nhiều lần đem quân đánh Hùng Vương, nhưng Hùng Vương binh hùng
tướng mạnh, vua bị thua mãi. Hùng Vương bảo vua rằng: "Ta có sức thần,
nước Thục không sợ ư ?" Rồi Hùng Vương bỏ không sửa sang võ bị, chỉ
ham ăn uống vui chơi. Quân Thục kéo sát đến nơi, hãy còn say mềm chưa
tỉnh, rồi thổ huyết nhảy xuống giếng chết, quân lính quay giáo đầu hàng
Thục Vương.
Bấy giờ Thục Vương đắp thành ở Việt Thường, rộng nghìn trượng, cuốn
tròn như hình con ốc, cho nên gọi là Loa Thành24, lại có tên là thành Tư
Long (người nhà Đường gọi là thành Côn Lôn, vì thành rất cao25). Thành
này cứ đắp xong lại sụt, vua lấy làm lo, mới trai giới khấn trời đất và thần
kỳ núi sông, rồi khởi công đắp lại.
Bính Ngọ, năm thứ 3 [255 TCN], (Động Chu Quân năm thứ 1). Mùa xuân,
tháng 3, chợt có thần nhân đến cửa thành, trỏ [6b] vào thành, cười mà nói
rằng: "Đắp đến bao giờ cho xong!". Vua mời vào điện hỏi, thần nhân trả
lời: "Cứ đợi giang sứ đến". Rồi cáo từ đi ngay. Sáng hôm sau, vua ra cửa
thành, quả thấy có con rùa vàng bơi trên sông từ phía đông đến, xưng là
giang sứ, nói được tiếng người, bàn được việc tương lai. Vua mừng lắm, để
vào mâm vàng, đặt mâm lên trên điện. Vua hỏi về nguyên do thành sụp, rùa
vàng đáp: "Đó là do tinh khí núi sông vùng này bị con vua trước phụ vào để
báp thù nước, nấp ở núi Thất Diệu. Trong núi có con quỷ, đó là người con
hát thời trước chôn ở đấy hóa làm quỷ. Cạnh núi có cái quán, chủ quán tên
https://thuviensach.vn
là Ngộ Không, có một đứa con gái và một con gà trắng, đó là dư khí của
tinh, phàm người qua lại ngủ đêm ở đấy đều phải chết vì bị quỷ làm hại.
Chúng có thể gọi nhau họp đàn lũ, làm cho sụp thành. Nếu giết con gà
trắng để trừ tinh khí ấy, thì thành tự nhiên được [7a] bền vững. Vua đem rùa
vàng đến quán ấy, giả làm người ngủ trọ. Chủ quán nói: "Ngài là quý nhân,
xin đi ngay, chớ lưu lại đây mà bị họa". Vua cười nói: "Sống chết có mệnh,
ma quỷ làm gì nổi ?". Rồi ngủ lại quán. Đến đêm nghe tiếng tinh quỷ từ
ngoài đến gọi mở cửa, rùa vàng liền quát mắng, quỷ không vào được, đến
khi gà gáy thì lũ quỷ tan chạy hết. Rùa vàng xin vua đuổi theo. Tới núi Thất
Diệu thì tinh khí biến mất, vua trở về quán. Sáng sớm, chủ quán tưởng vua
đã chết rồi, gọi người đến để khâm liệm đem chôn. Thấy vua vẫn vui vẻ
cười nói, chủ quán liền sụp lạy nói: "Ngài làm sao được như thế, tất phải là
thánh nhân!". Vua xin con gà trắng giết để tế. Gà chết, con gái chủ quán
cũng chết theo. Vua liền sai người đào núi, thấy có nhạc khí cổ và xương
người, đem đốt thành tro, rải xuống sông, yêu khí mới mất hẳn. Từ đấy, đắp
thành không [7b] quá nửa tháng thì xong. Rùa vàng cáo từ ra về. Vua cảm
tạ, hỏi rằng: "Đội ơn ngài thành đắp đã vững, nếu có giặc ngoài đến, thì lấy
gì mà chống giữ ?" Rùa vàng bèn trút chiếc móng trao cho vua và nói:
"Nước nhà yên hay nguy đều do số trời, nhưng người cũng nên phòng bị;
nếu có giặc đến thì dùng móng thiêng này làm lẫy nỏ, nhằm vào giặc mà
bắn thì không phải lo gì". Vua sai bề tôi là Cao Lỗ (có sách chép là Cao
Thông26) làm nỏ thần, lấy móng rùa làm lẫy, đặt tên là Linh Quang Kim
Trảo Thần Nỏ.
Cao Vương nhà Đường [tức Cao Biền] dẹp nước Nam Chiếu, khi đưa quân
về qua châu Vũ Ninh, đêm nằm chiêm bao thấy có người lạ tự xưng là Cao
Lỗ, nói: "Ngày xưa giúp An Dương Vương, có công đánh lui giặc, bị Lạc
hầu gièm pha, phải bỏ đi, sau khi chết, trời thương không có tội gì, ban cho
một dải núi sông này, cho làm chức quản lĩnh đô thống tướng quân, làm
chủ mọi việc đánh dẹp giặc giã và mùa màng cày cấy. Nay theo minh công
đi dẹp yên quân giặc, lại trở về bản bộ, không có lời từ biệt thì không phải
lễ. Cao Vương thức dậy, nói chuyện lại với liêu thuộc, có làm bài thơ:
https://thuviensach.vn
Mỹ hĩ Giao Châu địa,
Du Du vạn tải lai.
Cổ hiền năng đắc kiến,
Chung bất phụ linh đài.
(Đẹp thay đất Giao Châu,
Dằng dặc trải muôn thâu.
Người xưa nay được thấy,
Hả tấm lòng bấy lâu).
Nhâm Tý, năm thứ 9 [249 TCN], (Đông Chu Quân năm thứ 7; [bấy giờ có]
7 nước là Tần, Sở, Yên, Triệu, Ngụy, Hàn, Tề). Năm ấy nhà Chu mất.
[8a] Canh Thìn, năm thứ 37 [221 TCN], (Tần Thủy Hoàng Lữ Chính năm
thứ 26). Nước Tần thôn tính cả 6 nước, xưng hoàng đế. Bấy giờ người Từ
Liêm, Giao Chỉ ta, là Lý Ông Trọng27người cao 2 trượng 3 thước, lúc ít
tuổi đến hương ấp làm lực dịch, bị trưởng quan đánh, bèn bỏ sang nước
Tần làm quan đến chức Tư lệ hiệu úy. Thủy Hoàng lấy được thiên hạ, sai
ông đem quân đóng giữ đất Lâm Thao28, uy danh chấn động nước Hung
Nô. Khi tuổi già, về làng rồi chết. Thủy Hoàng cho ông là người kỳ lạ, đúc
đồng làm tượng, để ở cửa Tư Mã ở Hàm Dương, bụng tượng chứa được
mấy chục người, ngầm lay thì chuyển động được, Hung Nô tưởng đó là
hiệu úy còn sống, không dám đến xâm phạm (Triệu Xương nhà Đường làm
đô hộ Giao Châu, đêm thường nằm chiêm bao thấy cùng Ông Trọng giảng
bàn sách Xuân Thu, Tả Truyện, nhân hỏi chỗ ở cũ, rồi dựng đền thờ. Khi
Cao Vương đi đánh Nam Chiếu, thần thường hiển linh giúp sức. Cao
Vương cho sửa lại đền thờ, tạc gỗ làm tượng, gọi là [tượng] Lý hiệu úy. Đề
ở xã Thụy Hương huyện Từ Liêm)29.
Đinh Hợi, năm thứ 44 [214 TCN], (Tần Thủy Hoàng năm thứ 33). Nhà Tần
phát những người trốn tránh, người ở rể [8b] người đi buôn, ở các đạo ra
làm binh, sai hiệu úy Đồ Thư đem quân lâu thuyền, sai Sử Lộc đào ngòi
vận lương, đi sâu vào đất Lĩnh Nam, đánh lấy miền đất Lục Dương, đặt các
quận Quế Lâm (nay là huyện Quý của đất Minh, Quảng Tây)30, Nam Hải
(nay là tỉnh Quảng Đông) và Tượng Quận (tức là An Nam)31; cho Nhâm
https://thuviensach.vn
Ngao32làm Nam Hải úy, Triệu Đà làm Long Xuyên lệnh (Long Xuyên là
thuộc huyện của Nam Hải), đem những binh phải tội đồ 50 vạn người đến
đóng đồn ở Ngũ Lĩnh, Ngao và Đà nhân đó mưu xâm chiếm nước ta. (Chuế
tế: con trai không có tiền nộp sính lễ, lấy thân ở gửi nhà vợ nên gọi là chuế
tế [ở gửi rể] như cái bướu ở mình người ta, là vật thừa. Lục Lương là người
Lĩnh Nam phần nhiều ở chỗ núi rừng, trên cạn (lục), tính người mạnh tợn
(cường lương) nên gọi là Lục Lương).
Tân Mão, năm thứ 48 [210 TCN], (Tần Thủy Hoàng năm thứ 37). Mùa
đông, tháng 10, Thần Thủy Hoàng mất ở Sa Khâu. Nhâm Ngao...
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
nhiều tác giả
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Mục Lục
LỜI GIỚI THIỆU
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Đại cương
Ngoại Kỷ Toàn Thư Q 1
Ngoại Kỷ Toàn Thư Q 2
Ngoại Kỷ Toàn Thư Q 3
Ngoại Kỷ Toàn Thư Q 4
Ngoại Kỷ Toàn Thư Q 5
Bản Kỷ Toàn Thư Q 1(a)
Bản Kỷ Toàn Thư Q 1(b)
Bản Kỷ Toàn Thư Q2(a)
Bản Kỷ Toàn Thư Q2(b)
Bản Kỷ Toàn Thư Q3(a)
Bản Kỷ Toàn Thư Q3(b)
Bản Kỷ Toàn Thư Q4(a)
Bản Kỷ Toàn Thư Q4(b)
Bản Kỷ Toàn Thư Q5(a)
Bản Kỷ Toàn Thư Q5(b)
Bản Kỷ Toàn Thư Q5(c)
Bản Kỷ Toàn Thư Q6(a)
Bản Kỷ Toàn Thư Q6(b)
Bản Kỷ Toàn Thư 7
Bản Kỷ Toàn Thư Q8
Bản Kỷ Toàn Thư Q9
Bản Kỷ Toàn Thư Q10 (a)
Bản Kỷ Toàn Thư Q10 (b)
https://thuviensach.vn
Bản kỷ thực lục Q1(a)
Bản kỷ thực lục Q1(b)
Bản kỷ thực lục Q2(a)
Bản kỷ thực lục Q2(b)
Bản kỷ thực lục Q3(a)
Bản kỷ thực lục Q3(b)
Bản kỷ thực lục Q4
Bản kỷ thực lục Q5(a)
Bản kỷ thực lục Q5(b)
Bản kỷ thực lục Q6
Bản Kỷ Tục Biên Q1 (a)
Bản Kỷ Tục Biên Q1 (b)
Bản Kỷ Tục Biên Q2
Bản Kỷ Tục Biên Q3
Bản Kỷ Tục Biên Q4
Bản Kỷ Tục Biên Q5
Bản Kỷ Tục Biên Q6
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
Mục Lục
Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên... soạn thảo (1272 - 1697).
Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam dịch (1985 - 1992).
Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội (Hà Nội) ấn hành (1993).
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
LỜI GIỚI THIỆU
Nguyễn Khánh Toàn
Một dân tộc có nền văn hóa lâu đời bao giờ cũng trọng thị, giữ gìn coi như
thiêng liêng những di tích của nó, đặc biệt là dấu tích của những sự nghiệp
anh hùng và quang vinh của ông cha, nòi giống, những gì nhắc lại những
kỳ công của các bậc tiền bối trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, vì đời
sống ấm no, hạnh phúc của các thế hệ đã qua.
Về phương diện ấy, những cái gọi là di sản văn hóa, tuy thuộc về quá khứ
của một dĩ vảng không bao giờ trở lại, nhưng nó vẫn sống bởi vì những cái
chúng ta làm hôm nay, trong đời sống vật chất cũng như trong đời sống tinh
thần, là tiếp tục cái hôm qua.
Trong các loại di sản văn hóa của dân tộc, hiện nay chúng ta cần đặc biệt
quan tâm đến các loại sách cổ về đất nước và con người, về văn hóa, xã
hội, nhất là về lịch sử nước ta.
Có sự mâu thuẫn lạ đời này, là dân tộc ta có một lịch sử lâu đời với một nền
văn hóa độc đáo mà nhân dân ta từ bao đời, với bàn tay và khối óc của
mình, đã tự xây dựng lấy, nhưng chỉ cách đây tám, chín trăm năm, mới có
người Việt viết về lịch sử đất nước mình. Còn trước đó, trong các sách của
người Tàu viết, chỉ thỉnh thoảng họ mới nói đến cái đất nước của một dân
tộc "man di" gọi là Giao chỉ, một mảnh đất hầu như hoang vu, con người
còn sống sơ khai, cần phải được "Thiên Triều" "giáo hóa".
Vì thế mà trong suốt cả một thời gian lịch sử rất dài - hai, ba nghìn năm,
dân tộc Việt Nam phải liên tục đấu tranh chống họa xâm lược của nước
ngoài. Chíh trong cuộc đấu tranh đầy hy sinh gian khổ, nhưng anh hùng bất
khuất ấy mà dân tộc ta xây dựng và phát triển nền văn hóa độc đáo và xán
lạn của mình, tiêu biểu là nền văn hóa Đại Việt thời Lý, Trần, Lê.
Cho nên, rất dễ hiều, cách đây tám, chín trăm năm, khi lịch sử nước ta đi
vào kỷ nguyên Đại Việt, xuất hiện những nhà sử học lớn như Lê Văn Hưu,
Ngô Sĩ Liên.
https://thuviensach.vn
Đối với thời kỳ lừng danh như thời Đại Việt, nó là cả một bản anh hùng ca,
cái gì có liên quan đến nó, dẫu là một câu, một dòng chữ tự tay nhân vật đã
sống hoặc đã chứng kiến những giờ phút huy hoàng viết ra, mà ta được đọc
hay được nghe, đều là tiếng nói thân thiết từ ngàn xưa vọng lại, làm rung
động tâm hồn của chúng ta biết bao.
Cho nên, việc đáng mừng là chúng ta đã tìm lại đợc bản in xưa nhất của bộ
Đại Việt sử ký toàn thư. Đó là bản in theo ván khắc năm Chính Hoà thứ 18,
tức năm 1697, mà trước đây tưởng như không hy vọng tìm thấy. Còn những
bản in chúng ta vẫn thường dùng là những bản in sau đó, vào đời Nguyễn.
Đại Việt sử ký toàn thư là một thành tựu của nền văn hóa Đại Việt. Nó là
một công trình biên soạn lịch sử đồ sộ của nhiều nhà sử học nổi tiếng của
nước ta, từ Lê Văn Hưu đời Trần, qua Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, đến
Phạm Công Trứ, Lê Hy đời Lê.
Bộ sự được đặt cơ sở đầu tiên với Đại Việt sử ký toàn thư 30 quyền của Lê
Văn Hưu, viết xong năm 1272, trong thời kỳ chiến đấu oanh liệt chống
quân xâm lược Mông - Nguyên. Nó được tiếp tục với Phan Phu Tiên, Ngô
Sĩ Liên thế kỷ XV, trong giai đoạn phát triển cao nhất của nền văn hóa Đại
Việt, giao đoạn của vũ công chống Minh, của Đại Cáo Bình Ngô, của chủ
nghĩa yêu nước hoàn chỉnhv à tiên tiến của Nguyễn Trãi. Nó được hoàn
thành và công bố năm 1697, biên chép lịch sử dân tộc từ buổi đầu dựng
nước cho đến năm 1675.
Một công trình sử học được xây dựng trong bối cảnh lịch sử như thế hẳn
mang hơi thở của thời đại, phản ánh được tương đối chính xác và đầy đủ
thực tế hào hùng của đất nước. Và điều chắc chắn, nó là kho tư liệu phong
phú không những cần thiết cho ngành sử học mà còn giúp ích cho nhiều
ngành khoa học xã hội khác nữa.
Bộ Đại Việt sử ký toàn thư là một di sản vô giá của văn hóa dân tộc.
Tôi xin trân trọng giới thiệu với các nhà khoa học trong và ngoài nước, với
tất cả bạn đọc, bản dịch Đại Việt sử ký toàn thư dựa trên ván khắc năm
1697 kèm theo chú giải, sách dẫn và bản chụp nguyên văn chữ Hán.
Tôi hy vọng công trình xuất bản này sẽ đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu
của các nhà sử học, các nhà khoa học thuộc nhiều ngành khoa học xã hội
https://thuviensach.vn
trong nước, các nhà Việt Nam học trên thế giới và tất cả những ai muốn tìm
hiểu nghiên cứu lịch sử Việt Nam.
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Năm 1967, Nhà xuất bản Khoa Học xã hội đã xuất bản bộ Đại Việt sử ký
toàn thư gồm 4 tập do nhà Hán học Cao Huy Giu dịch và Giáo sư Đào Duy
Anh hiệu đính. Đó là một bộ sử lớn, có giá trị, được biên soạn qua nhiều
đời, gắn liền với tên tuổi của những nhà sử học nổi tiếng ngày xưa như Lê
Văn Hưu thế kỷ XIII, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên thế kỷ XV, Phạm Công
Trứ, Lê Hy thế kỷ XVII.
Năm 1971, bộ sử đó được tái bản lần thứ hai, có sửa chữa và bổ sung. Sau
đó một thời gian, nhiều bạn đọc yêu thích lịch sử dân tộc, nhiều nhà sử học,
nhiều cán bộ nghiên cứu và giảng dạy thuộc nhiều ngành, nhiều cơ quan đã
yêu cầu chúng tôi tái bản lần thứ ba bộ sử ấy.
Giữa lúc đó thì Giáo sư sử học Phan Huy Lê, sau chuyến đi công tác ở
Pháp về, cho chúng tôi biết việc phát hiện ra bản in xưa nhất của bộ Đại
Việt sử ký toàn thư, bản Nội các quan bản, và vui lòng cho chúng tôi sử
dụng bản sao chụp bản in ấy do Giáo sư đem về nước. Đấy là bản in theo
ván khắc năm Chính Hoà thứ 18, tức năm 1697, còn được lưu giữ tại Thư
viện của Hội Á Châu ở Paris.
Năm 1985, theo đề nghị của Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, bà C.
Rageau, Giám đốc Thư Viện Trường Viễn Đông bác cổ (EFFO), đã đem
sang tặng Việt Nam bộ vi phim (microfilm) bản in Nội các quan bản của
Đại Việt sử ký toàn thư đang lưu giữ ở Paris và đồng ý cho Việt Nam được
toàn quyền sử dụng văn bản này.
Chúng tôi đã báo cáo lên Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Khoa
học xã hội Việt Nam hiện nay) và đề nghị cho tổ chức nghiên cứu, phiên
dịch và xuất bản kịp thời bộ Đại Việt sử ký toàn thư căn cứ trên bản in Nội
các quan bản được in từ ván khắc năm Chính Hoà 18 (1697). Sau khi đề
nghị trên được chấp nhận, một Hội đồng chỉ đạo đã được thành lập, gồm:
https://thuviensach.vn
Chủ tịch:
- Giáo sư Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn
Ủy viên:
- Giáo sư sử học Phan Huy Lê,
- Giám đốc kiêm Tổng biên tập Nhà xuất bản Khoa học xã hội Phạm Hựu
Sau khi ông Phạm Hựu nghỉ hưu, ông Nguyễn Đức Diệu giữ chức Giám
đốc kiêm Tổng biên tập Nhà xuất bản Khoa học xãhội đã tham gia Hội
đồng chỉ đạo với cương vị ủy viên thay thế ông Phạm Hựu.
Đại Việt sử ký toàn thư là một bộ sử có giá trị về nhiều mặt, là một di sản
qúy báu của nền văn hoá dân tộc. Dưới sự chỉ đạo của Hội đồng, chúng tôi
thấy có nhiệm vụ phải cố gắng làm sao để cho công trình xuất bản này
xứng đáng với vị trí và giá trị của bộ sử. Về mặt phiên dịch, chúng tôi có
tham khảo và kế thừa bản dịch cũ, nhưng phải dịch lại trực tiếp từ văn bản
mới phát hiện. Chúng tôi cũng mong muốn bản dịch mới tiếp thu những
thành tựu mới về ngôn ngữ tiếng Việt và dịch thuật chữ Hán trong thời gian
gần đây, vừa tôn trọng ở mức độ cao nhất nội dung và phong cách của bộ
sử đã ra đời cách đây gần 300 năm, vừa làm cho bạn đọc dù không biết chữ
Hán vẫn hiểu đợc nội dung bộ sử đến mức tốt nhất.
Công trình xuất bản Đại Việt sử ký toàn thư gồm 4 tập:
Tập I gồm Lời Nhà xuất bản Khoa học xãhội, Lời giới thiệu của Giáo sư
Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn, bài Khảo cứu về "Đại Việt sử ký toàn thư: tác
giả - văn bản - tác phẩm" của Giáo sư Phan Huy Lê và bản dịch phần đầu
Đại Việt sử ký toàn thư gồm Quyển thủ, Ngoại kỷ Q. 1 - 5, Bản kỷ Q 1 - 4,
do nhà nghiên cứu Hán Nôm Ngô Đức Thọ dịch, chú giải, và Giáo sư Hà
Văn Tấn hiệu đính.
https://thuviensach.vn
Tập II gồm phần dịch và chú giải Bản kỷ Q.5 - 13 do nhà nghiên cứu Hán
Nôm Hoàng Văn Lâu dịch, Giáo sư Hà Văn Tấn hiệu đính.
Tập III gồm phần dịch và chú giải Bản kỷ Q.14 - 19 do nhà nghiên cứu Hán
Nôm Hoàng Văn Lâu dịch, Giáo sư Hà Văn Tấn hiệu đính và phần Phụ lục
với bản dịch Đại Việt sử ký tục biên Q.20 - 21 của Phạm Công Trứ do nhà
nghiên cứu Hán Nôm Ngô Thế Long thực hiện và Sách dẫn để tra cứu do
Bộ môn phương pháp luận sử học thuộc Khoa sử Trường Đại học tổng hợp
Hà Nội thực hiện.
Tập IV in lại bản chụp nguyên văn chữ Hán bản in Nội các quan bản bộ
Đại Việt sử ký toàn thư.
Tập I đã xuất bản năm 1983, tập II năm 1985, trong điều kiện ấn loát chưa
được tốt lắm. Vì vậy, theo quyết định của Hội đồng chỉ đạo, năm 1992
chúng tôi in lại tập I, tập II có sửa chữa và in tiếp tập III, IV.
Nhà xuất bản Khoa học xã hội xin trân trọng và vui mừng giới thiệu với
bạn đọc công trình xuất bản bộ Đại Việt sử ký toàn thư.
Nhân đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Hội đồng chỉ đạo do Giáo sư
Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn làm Chủ tịch, cảm ơn sự tin cậy và cộng tác
tích cực của Giáo sư Phan Huy Lê, Giáo sư Hà Văn Tấn, sự làm việc hết
lòng của các nhà nghiên cứu Hán Nôm Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu,
Ngô Thế Long và các cán bộ biên tập Lê Văn Quýnh, Nguyễn Duy Chiếm.
Cũng nhân dịp bộ Đại Việt sử ký toàn thư ra mắt, chúng tôi xin trân trọng
cảm ơn Thư viện Hội Á Châu, Trường Viễn Đông bác cổ, Trường Đại học
Paris VII, Hội Khoa học xã hội của người Việt Nam tại Pháp và Giáo sư sử
học lão thành Hoàng Xuân Hãn, nhà nghiên cứu Hán Nôm Tạ Trọng Hiệp,
các nhà khoa học người Việt Nam tại Pháp ở Paris trước đây đã nhiệt tình
giúp đỡ Giáo sư Phan Huy Lê trong việc nghiên cứu và sao chụp bản Đại
Việt sử ký toàn thư ở Pháp, nay tiếp tục giúp đỡ chúng tôi trong việc chụp
lại và công bố văn bản đó, chúng tôi trân trọng cảm ơn bà Vân Bùi Mộng
Hùng, Giám đốc Nhà xuất bản Chân Mây Médiapoly đã hết lòng cộng tác
giúp đỡ chúng tôi sao chụp và thu nhỏ, làm chế bản in Nội các quan bản bộ
Đại Việt sử ký toàn thư để xuất bản tập IV.
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam, nhà
https://thuviensach.vn
thơ Cù Huy Cận đã quan tâm giúp đỡ chúng tôi và đặc biệt trân trọng cảm
ơn ông Tổng Giám đốc UNESCO (Paris) đã tài trợ cho công trình xuất bản
bộ Đại Việt sử ký toàn thư này, nhằm bảo vệ và phát huy một di sản quý giá
của nền văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam.
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
Đại cương
TÁC GIẢ - VĂN BẢN - TÁC PHẨM
PHAN HUY LÊ
I. QUÁ TRÌNH BIÊN SOẠN VÀ TÁC GIẢ
Bộ Đại Việt sử ký toàn thư còn lại đến ngày nay là một bộ Quốc sử lớn, có
giá trị, lần đầu tiên được khắc in toàn bộ và công bố vào năm Đinh Sửu,
niên hiệu Chính Hoà thứ 18, triều Lê Hy Tông, tức năm 1697. Trong lời tựa
của lần xuất bản đó - gọi là Tựa Đại Việt sử ký tục biên - nhóm biên soạn
đứng đầu là Tham tụng, Hình bộ thượng thư tri Trung thư giám Lê Hy, cho
biết bộ Quốc sử này là kết quả của một quá trình biên soạn, tu bổ qua nhiều
đời: "Nước Việt ta, sử ký các đời do các tiên hiền Lê Văn Hưu, Phan Phu
Tiên làm ra trước, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh soạn tiếp sau, đến đời Lê Huyền
Tông (1663 - 1671) sai bọn tể thần Phạm Công Trứ tham khảo sử cũ như sử
ký ngoại kỷ, Bản kỷ toàn thư, Bản kỷ thực lục đều y theo danh lệ của các
sử trước, lại tham xét biên soạn từ quốc triều Trang Tông Dụ Hoàng đế
(1533 - 1548) "sai bọn khảo thần khảo đính sử cũ, chỗ nào sai thì sửa lại,
chỗ nào đúng thì chép lấy Lại sưu tầm sự tích cũ, tham khảo các dã sử, loại
biên, [biên sọan] từ Huyền Tông Mục Hoàng Đế năm Đức Nguyên thứ 2
(1675), tất cả sự thực trong 13 năm, cũng gọi là Bản kỷ tục biên. Sách làm
xong, dâng lên ngự lãm, bèn sai thợ khắc in, ban bố trong thiên hạ" (Quyển
thủ, Đại Việt sử ký tục biên tự, 1b - 3b).
Như vậy, bộ Đại Việt sử ký toàn thư là một công trình tập đại thành nhiều
bộ sử do nhiều nhà sử học của các đời biên soạn, từ Lê Văn Hưu đời Trần,
qua Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh đời Lê sơ, đến Phạm Công
Trứ, Lê Hy đời Lê Trung hưng, cùng những người cộng sự với họ. Theo
bản in từ ván khắc năm Chính Hoà 18 (1697) mang danh hiệu bản in Nội
các quan bản - từ đây gọi tắt là bản Chính Hoà - bộ sử này gồm quyển thủ
24 quyển, biên chép một cách hệ thống lịch sử dân tộc từ họ Hồng Bàng
đến năm 1675.
https://thuviensach.vn
Bố cục của bộ sử như sau:
Quyển thủ: gồm các Lời tựa của Lê Hy, Phạm Công Trứ, Ngô Sĩ
Liên, Biểu dâng sách của Ngô Sĩ Liên, Phạm lệ, Kỷ niên mục lục và
bài Việt giám thông khảo tổng luận của Lê Trung.
Ngoại kỷ: gồm 5 quyển, từ họ Hồng Bàng đến các Sứ quân.
Quyển 1: kỷ họ Hồng Bàng, kỷ họ Thục
Quyển 2: kỷ họ Triệu
Quyển 3: kỷ thuộc Tây Hán, kỷ Trưng Nữ Vương, kỷ thuộc Đông
Hán, kỷ Sĩ Vương
Quyển 4: kỷ thuộc Ngô-Tấn-Tống-Tề-Lương, kỷ tiền Lý kỷ Triệu
Việt vương, kỷ Hậu lý
Quyển 5: kỷ thuộc Tùy - Đường, ký họ Ngô
Bản kỷ: gồm 19 quyển, từ triều đình đến năm 1675.
Quyển 1: kỷ nhà Đinh, kỷ nhà Lê
Quyển 2: kỷ nhà Lý: Thái Tổ, Thái Tông
Quyển 3: Thánh Tông, Nhân Tông
Quyển 4: Anh Tông, Cao Tông, Huệ Tông, Chiêu Hoàng
Quyền 5: kỷ nhà Trần, Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông
Quyển 6: Anh Tông, Minh Tông
Quyển 7: Hiến Tông, Dụ Tông, Nghệ Tông, Duệ Tông
Quyển 8: Phế Đế, Thuận Tông, Thiếu Đế, Hồ Quý Ly, Hồ Hán
Thương
Quyển 9: kỷ Hậu Trần, kỷ thuộc Minh
Quyển 10: kỷ Lê Hoàng Triều: Thái Tổ
Quyển 11: Thái Tông, Nhân Tông
Quyển 12: Thánh Tông (thượng)
Quyển 13: Thánh Tông (hạ)
https://thuviensach.vn
Quyển 14: Hiến Tông, Túc Tông, Uy Mục
Quyển 15: Tương Dực, Đà Vương, Cung Hoàng, Mạc Đăng
Dung, Mạc Đăng Khanh
Quyển 16: Trang Tông, Trung Tông, Anh Tông, Mạc Đăng
Doanh đến Mạc Mậu Hợp
Quyển 17: Thế Tông, Mạc Mậu Hợp
Quyển 18: Kính Tông, Chân Tông, Thần Tông
Quyển 19: Huyền Tông, Gia Tông
19 quyển Bản kỷ lại chia làm 3 phần:
Bản kỷ toàn thư: từ quyền 1 đến quyển 10
Bản kỷ thực lục: từ quyển 11 đến quyển 15
Bản kỷ tục biên: từ quyển 16 đến quyển 19
Bộ Đại Việt sử ký toàn thư với bố cục như trên đã được hoàn thành,
khắc in và công bố vào năm 1697.
Một vấn đề khoa học được đặt ra là quá trình biên soạn từ Lê Văn Hưu
đến Lê Hy diễn ra như thế nào, những ai đã tham gia vào công trình
đó, đóng góp của mỗi người (haymỗi nhóm) ra sao và để lại dấu ấn gì
trong bộ quốc sử cón lại đến ngày nay?
Muốn giải đáp vấn đề trên, chúng ta hãy lấy bộ Đại Việt sử ký toàn
thư đời Chính Hoà làm cơ sở và ngược dòng thời gian, nghiên cứu
những bộ sử tiền thân của nó, bắt đầu từ Đại Việt sử ký của Lê Văn
Hưu đời Trần.
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
Ngoại Kỷ Toàn Thư Q 1
Hồng Bàng, An Dương Vương
[1a] Triều Liệt Đại Phu, Quốc Tử Giám Tư Nghiệp, Kiêm Sử Quan Tu
Soạn, Thần Ngô Sĩ Liên Biên
Xét: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây
Nam, xa ngoài đất Bách Việt. Vua Nghiêu sai Hy thị1đến ở Nam Giao2để
định đất Giao Chỉ ở phương Nam. Vua Vũ chia chín châu3thì Bách
Việt4thuộc phần đất châu Dương, Giao Chỉ thuộc về đấy. Từ đời Thành
Vương nhà Chu [1063-1026 TCN] mới gọi là Việt Thường thị5, tên Việt bắt
đầu có từ đấy.
Kỷ Hồng Bàng Thị
Kinh Dương Vương
[1b] Tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông6.
Nhâm Tuất, năm thứ 17. Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế
Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ
Lĩnh8lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua [Kinh Dương Vương]. Vua là bậc
thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố
nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con
nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương,
cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.
Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long9sinh ra Lạc Long Quân
(Xét: Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng
là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết
thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động
Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi).
Lạc Long Quân
[2a] Tên húy là Sùng Lãm, con của Kinh Dương Vương.
Vua lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh
https://thuviensach.vn
trăm trứng), là tổ của Bách Việt. Một hôm, vua bảo Âu Cơ rằng: "Ta là
giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó".
Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền
Nam (có bản chép là về Nam Hải), phong cho con trưởng làm Hùng
Vương, nối ngôi vua.
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Khi trời đất mới mở mang, có thứ do khí hóa ra,
đó là Bàn Cổ thị. Có khí hóa ra rồi sau có hình hóa, không thứ gì ngoài hai
khí âm dương cả. Kinh Dịch nói: "Trời đất nung ủ, vạn vật thuần hóa, đực
cái hợp tinh, vạn vật hóa sinh"10. Cho nên có vợ chồng rồi sau mới có cha
con, có cha con rồi sau mới có vua tôi. [2b] Nhưng thánh hiền sinh ra, tất
có khác thường, đó là do mệnh trời. Nuốt trứng chim huyền điểu mà sinh ra
nhà Thương11, giẫm vết chân người khổng lồ mà dấy nhà Chu12, đều là ghi
sự thực như thế. Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên
mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt. Vương lấy con
gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai
mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ
nghiệp của nước Việt ta hay sao? Xét sách Thông Giám Ngoại kỷ (4)13nói:
Đế Lai là con Đế Nghi; cứ theo sự ghi chép ấy thì Kinh Dương Vương là
em ruột Đế Nghi, thế mà kết hôn với nhau, có lẽ vì đời ấy còn hoang sơ, lễ
nhạc chưa đặt mà như thế chăng?
Hùng Vương
[3a] Con Lạc Long Quân (không rõ tên húy)14, đóng đô ở Phong Châu (nay
là huyện Bạch Hạc)15.
Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (nước này đông giáp biển
Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn,
tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam), chia nước làm 15 bộ là: Giao
Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền,
Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức;
đều là đất thần thuộc của Hùng Vương; còn bộ gọi là Văn Lang là nơi vua
đóng đô16. Đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng (chữ
Lạc Tướng, sau chép sai là Hùng Tướng17). Con trai vua gọi là Quan Lang,
https://thuviensach.vn
con gái vua gọi là Mị Nương. Quan coi việc gọi là Bồ Chính, đời đời cha
truyền con nối, gọi là phụ đạo. Vua các đời đều gọi là Hùng Vương. Bấy
giờ dân ở rừng núi thấy ở sông ngòi khe suối đều có tôm cá, nên rủ nhau đi
bắt cá để ăn, thường bị thuồng luồng làm hại, [3b] đến thưa với vua. Vua
nói: "Người man ở núi khác với các loài thủy tộc; các thủy tộc ấy ưa cùng
loài mà ghét khác loài, cho nên mới bị chúng làm hại. Rồi vua bảo mọi
người lấy mực vẽ hình thủy quái ở mình. Từ đấy thuồng luồng trông thấy
không cắn hại nữa. Tục vẽ mình của người Bách Việt có lẽ bắt đầu từ đấy.
Đời Hùng Vương thứ 6, ở hương Phù Đổng, bộ Vũ Ninh có người nhà
giàu, sinh một con trai, đến năm hơn ba tuổi ăn uống béo lớn nhưng không
biết nói cười. Gặp lúc trong nước có tin nguy cấp, vua sai người đi tìm
người có thể đánh lui được giặc. Ngày hôm ấy, đứa trẻ bỗng nói được, bảo
mẹ ra mời thiên sứ vào, nói: "Xin cho một thanh gươm, một con ngựa, vua
không phải lo gì". Vua ban cho gươm và ngựa, đứa trẻ liền phi ngựa vung
gươm tiến lên trước, quan quân theo sau, đánh tan quân giặc ở chân núi Vũ
Ninh18. Quân giặc tự quay giáo đánh lẫn nhau, chết rất nhiều, bọn sống sót
đều rạp lạy, tôn gọi đứa trẻ ấy là thiên tướng, liền đến xin hàng cả. Đứa trẻ
phi ngựa [4a] lên trời mà đi. Vua sai sửa sang chỗ vường nhà của đứa trẻ để
lập đền thờ, tuế thời cúng tế. Về sau, Lý Thái Tổ phong là Xung Thiên
Thần Vương. (Đền thờ ở cạnh chùa Kiến Sơ, hương Phù Đổng).
Thời Thành Vương nhà Chu [1063-1026 TCN], nước Việt ta lần đầu sang
thăm nhà Chu (không rõ vào đời Hùng Vương thứ mấy), xưng là Việt
Thường thị, hiến chim trĩ trắng. Chu Công nói: "Chính lệnh không ban đến
thì người quân tử không coi người ta là bề tôi của mình", rồi sai làm xe chỉ
nam đưa sứ giả về nước.
Cuối thời Hùng Vương, vua có con gái gọi là Mị Nương, nhan sắc xinh
đẹp. Thục Vương nghe tiếng, đến cầu hôn. Vua muốn gả, nhưng Hùng hầu
can rằng: "Họ muốn chiếm nước ta, chỉ lấy việc hôn nhân làm cớ mà thôi".
Thục Vương vì chuyện ấy để bụng oán giận. Vua muốn tìm người xứng
đáng để gả, bảo các bề tôi rằng: "Đứa con gái này là giống tiên, người nào
có đủ tài đức mới cho làm rể". Bấy giờ có hai người từ ngoài đến, lạy dưới
https://thuviensach.vn
sân để cầu hôn. Vua lấy làm lạ, hỏi thì họ thưa rằng một người là [4b] Sơn
Tinh, một người là Thủy Tinh, đều ở trong cõi cả, nghe nhà vua có thánh
nữ, đánh bạo đến xin lĩnh mệnh. Vua nói: "Ta có một người con gái, lẽ nào
lại được cả hai rể hiền?". Bèn hẹn đến ngày hôm sau, ai đem đủ sính lễ đến
trước thì gả cho người ấy. Hai người vâng lời, lạy tạ ra về. Hôm sau, Sơn
Tinh đem các đồ châu báu vàng bạc, chim núi thú rừng đến dâng. Vua y
hẹn gả con cho. Sơn Tinh đón vợ về ở ngọn núi cao trên núi Tản Viên.
Thủy Tinh cũng đem sính lễ đến sau, giận tiếc là không kịp, bèn kéo mây
làm mưa, dâng nước tràn ngập, đem các loài thủy tộc đuổi theo. Vua cùng
Sơn Tinh lấy lưới sắt chăng ngang thượng lưu sông Từ Liêm19để chặn lại.
Thủy Tinh theo sông khác, từ Ly Nhân vào chân núi Quảng Oai20rồi theo
dọc bờ lên cửa sông Hát, ra sông lớn21mà rẽ vào sông Đà để đánh Tản
Viên, nơi nơi đào sâu thành vực thành chằm, chứa nước để mưu đánh úp.
Sơn Tinh có phép thần biến hóa, gọi [5a]22người man đan tre làm rào chắn
nước, lấy nỏ bắn xuống, các loài có vẩy và có vỏ trúng tên đều chạy trốn
cả. Rốt cuộc Thủy Tinh không thể xâm phạm được núi Tản Viên. (Tục
truyền Sơn Tinh và Thủy Tinh từ đấy về sau đời đời thù oán, mỗi năm mùa
nước to thường vẫn đánh nhau).
Núi Tản Viên là dãy núi cao của nước Việt ta, sự linh thiêng rất ứng
nghiệm. Mị Nương đã lấy Sơn Tinh, Thục Vương tức giận, dặn lại con
cháu phải diệt Văn Lang mà chiếm lấy nước. Đến đời cháu là Thục Phán có
dũng lược, bèn đánh lấy nước.
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Thời Hùng Vương đặt chư hầu để làm phên giậu,
chia nước làm 15 bộ. Ở 15 bộ ấy đều có trưởng và tá. Vua theo thứ bậc cắt
đặt các con thứ để cai trị. Nói 50 con theo mẹ về núi, làm sao biết không
phải là như thế? Vì mẹ làm quân trưởng, các con đều làm chúa một
phương. Cứ xem như tù trưởng người man ngày nay xưng là nam phụ đạo,
[5b] nữ phụ đạo (nay bản triều đổi chữ phụ đạo ___ ___ thành chữ phụ đạo
___ ___ thì có lẽ đúng như thế). Còn như việc Sơn Tinh, Thủy Tinh thì rất
là quái đản, tin sách chẳng bằng không có sách, hãy tạm thuật lại chuyện cũ
để truyền lại sự nghi ngờ thôi).
https://thuviensach.vn
Trở lên là [kỷ] Hồng Bàng thị, từ Kinh Dương Vương được phong năm
Nhâm Tuất, cùng thời với Đế Nghi, truyền đến cuối thời vua Hùng Vương,
ngang với đời Noãn Vương nhà Chu năm thứ 57 [258 TCN] là năm Quý
Mão thì hết, tất cả 2.622 năm [2879 - 258 TCN].
Kỷ Nhà Thục
An Dương Vương
Họ Thục, tên húy là Phán, người Ba Thục23, ở ngôi 50 năm, đóng đô ở
Phong Khê (nay là thành Cổ Loa).
[6a] Giáp Thìn, năm thứ 1 [257 TCN], (Chu Noãn Vương năm thứ 58). Vua
đã thôn tính được nước Văn Lang, đổi quốc hiệu là Âu Lạc. Trước kia vua
nhiều lần đem quân đánh Hùng Vương, nhưng Hùng Vương binh hùng
tướng mạnh, vua bị thua mãi. Hùng Vương bảo vua rằng: "Ta có sức thần,
nước Thục không sợ ư ?" Rồi Hùng Vương bỏ không sửa sang võ bị, chỉ
ham ăn uống vui chơi. Quân Thục kéo sát đến nơi, hãy còn say mềm chưa
tỉnh, rồi thổ huyết nhảy xuống giếng chết, quân lính quay giáo đầu hàng
Thục Vương.
Bấy giờ Thục Vương đắp thành ở Việt Thường, rộng nghìn trượng, cuốn
tròn như hình con ốc, cho nên gọi là Loa Thành24, lại có tên là thành Tư
Long (người nhà Đường gọi là thành Côn Lôn, vì thành rất cao25). Thành
này cứ đắp xong lại sụt, vua lấy làm lo, mới trai giới khấn trời đất và thần
kỳ núi sông, rồi khởi công đắp lại.
Bính Ngọ, năm thứ 3 [255 TCN], (Động Chu Quân năm thứ 1). Mùa xuân,
tháng 3, chợt có thần nhân đến cửa thành, trỏ [6b] vào thành, cười mà nói
rằng: "Đắp đến bao giờ cho xong!". Vua mời vào điện hỏi, thần nhân trả
lời: "Cứ đợi giang sứ đến". Rồi cáo từ đi ngay. Sáng hôm sau, vua ra cửa
thành, quả thấy có con rùa vàng bơi trên sông từ phía đông đến, xưng là
giang sứ, nói được tiếng người, bàn được việc tương lai. Vua mừng lắm, để
vào mâm vàng, đặt mâm lên trên điện. Vua hỏi về nguyên do thành sụp, rùa
vàng đáp: "Đó là do tinh khí núi sông vùng này bị con vua trước phụ vào để
báp thù nước, nấp ở núi Thất Diệu. Trong núi có con quỷ, đó là người con
hát thời trước chôn ở đấy hóa làm quỷ. Cạnh núi có cái quán, chủ quán tên
https://thuviensach.vn
là Ngộ Không, có một đứa con gái và một con gà trắng, đó là dư khí của
tinh, phàm người qua lại ngủ đêm ở đấy đều phải chết vì bị quỷ làm hại.
Chúng có thể gọi nhau họp đàn lũ, làm cho sụp thành. Nếu giết con gà
trắng để trừ tinh khí ấy, thì thành tự nhiên được [7a] bền vững. Vua đem rùa
vàng đến quán ấy, giả làm người ngủ trọ. Chủ quán nói: "Ngài là quý nhân,
xin đi ngay, chớ lưu lại đây mà bị họa". Vua cười nói: "Sống chết có mệnh,
ma quỷ làm gì nổi ?". Rồi ngủ lại quán. Đến đêm nghe tiếng tinh quỷ từ
ngoài đến gọi mở cửa, rùa vàng liền quát mắng, quỷ không vào được, đến
khi gà gáy thì lũ quỷ tan chạy hết. Rùa vàng xin vua đuổi theo. Tới núi Thất
Diệu thì tinh khí biến mất, vua trở về quán. Sáng sớm, chủ quán tưởng vua
đã chết rồi, gọi người đến để khâm liệm đem chôn. Thấy vua vẫn vui vẻ
cười nói, chủ quán liền sụp lạy nói: "Ngài làm sao được như thế, tất phải là
thánh nhân!". Vua xin con gà trắng giết để tế. Gà chết, con gái chủ quán
cũng chết theo. Vua liền sai người đào núi, thấy có nhạc khí cổ và xương
người, đem đốt thành tro, rải xuống sông, yêu khí mới mất hẳn. Từ đấy, đắp
thành không [7b] quá nửa tháng thì xong. Rùa vàng cáo từ ra về. Vua cảm
tạ, hỏi rằng: "Đội ơn ngài thành đắp đã vững, nếu có giặc ngoài đến, thì lấy
gì mà chống giữ ?" Rùa vàng bèn trút chiếc móng trao cho vua và nói:
"Nước nhà yên hay nguy đều do số trời, nhưng người cũng nên phòng bị;
nếu có giặc đến thì dùng móng thiêng này làm lẫy nỏ, nhằm vào giặc mà
bắn thì không phải lo gì". Vua sai bề tôi là Cao Lỗ (có sách chép là Cao
Thông26) làm nỏ thần, lấy móng rùa làm lẫy, đặt tên là Linh Quang Kim
Trảo Thần Nỏ.
Cao Vương nhà Đường [tức Cao Biền] dẹp nước Nam Chiếu, khi đưa quân
về qua châu Vũ Ninh, đêm nằm chiêm bao thấy có người lạ tự xưng là Cao
Lỗ, nói: "Ngày xưa giúp An Dương Vương, có công đánh lui giặc, bị Lạc
hầu gièm pha, phải bỏ đi, sau khi chết, trời thương không có tội gì, ban cho
một dải núi sông này, cho làm chức quản lĩnh đô thống tướng quân, làm
chủ mọi việc đánh dẹp giặc giã và mùa màng cày cấy. Nay theo minh công
đi dẹp yên quân giặc, lại trở về bản bộ, không có lời từ biệt thì không phải
lễ. Cao Vương thức dậy, nói chuyện lại với liêu thuộc, có làm bài thơ:
https://thuviensach.vn
Mỹ hĩ Giao Châu địa,
Du Du vạn tải lai.
Cổ hiền năng đắc kiến,
Chung bất phụ linh đài.
(Đẹp thay đất Giao Châu,
Dằng dặc trải muôn thâu.
Người xưa nay được thấy,
Hả tấm lòng bấy lâu).
Nhâm Tý, năm thứ 9 [249 TCN], (Đông Chu Quân năm thứ 7; [bấy giờ có]
7 nước là Tần, Sở, Yên, Triệu, Ngụy, Hàn, Tề). Năm ấy nhà Chu mất.
[8a] Canh Thìn, năm thứ 37 [221 TCN], (Tần Thủy Hoàng Lữ Chính năm
thứ 26). Nước Tần thôn tính cả 6 nước, xưng hoàng đế. Bấy giờ người Từ
Liêm, Giao Chỉ ta, là Lý Ông Trọng27người cao 2 trượng 3 thước, lúc ít
tuổi đến hương ấp làm lực dịch, bị trưởng quan đánh, bèn bỏ sang nước
Tần làm quan đến chức Tư lệ hiệu úy. Thủy Hoàng lấy được thiên hạ, sai
ông đem quân đóng giữ đất Lâm Thao28, uy danh chấn động nước Hung
Nô. Khi tuổi già, về làng rồi chết. Thủy Hoàng cho ông là người kỳ lạ, đúc
đồng làm tượng, để ở cửa Tư Mã ở Hàm Dương, bụng tượng chứa được
mấy chục người, ngầm lay thì chuyển động được, Hung Nô tưởng đó là
hiệu úy còn sống, không dám đến xâm phạm (Triệu Xương nhà Đường làm
đô hộ Giao Châu, đêm thường nằm chiêm bao thấy cùng Ông Trọng giảng
bàn sách Xuân Thu, Tả Truyện, nhân hỏi chỗ ở cũ, rồi dựng đền thờ. Khi
Cao Vương đi đánh Nam Chiếu, thần thường hiển linh giúp sức. Cao
Vương cho sửa lại đền thờ, tạc gỗ làm tượng, gọi là [tượng] Lý hiệu úy. Đề
ở xã Thụy Hương huyện Từ Liêm)29.
Đinh Hợi, năm thứ 44 [214 TCN], (Tần Thủy Hoàng năm thứ 33). Nhà Tần
phát những người trốn tránh, người ở rể [8b] người đi buôn, ở các đạo ra
làm binh, sai hiệu úy Đồ Thư đem quân lâu thuyền, sai Sử Lộc đào ngòi
vận lương, đi sâu vào đất Lĩnh Nam, đánh lấy miền đất Lục Dương, đặt các
quận Quế Lâm (nay là huyện Quý của đất Minh, Quảng Tây)30, Nam Hải
(nay là tỉnh Quảng Đông) và Tượng Quận (tức là An Nam)31; cho Nhâm
https://thuviensach.vn
Ngao32làm Nam Hải úy, Triệu Đà làm Long Xuyên lệnh (Long Xuyên là
thuộc huyện của Nam Hải), đem những binh phải tội đồ 50 vạn người đến
đóng đồn ở Ngũ Lĩnh, Ngao và Đà nhân đó mưu xâm chiếm nước ta. (Chuế
tế: con trai không có tiền nộp sính lễ, lấy thân ở gửi nhà vợ nên gọi là chuế
tế [ở gửi rể] như cái bướu ở mình người ta, là vật thừa. Lục Lương là người
Lĩnh Nam phần nhiều ở chỗ núi rừng, trên cạn (lục), tính người mạnh tợn
(cường lương) nên gọi là Lục Lương).
Tân Mão, năm thứ 48 [210 TCN], (Tần Thủy Hoàng năm thứ 37). Mùa
đông, tháng 10, Thần Thủy Hoàng mất ở Sa Khâu. Nhâm Ngao...
 





