BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

KHO HỌC LIỆU SỐ

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN - SƯU TẦM

THÀNH VIÊN TRỰC TUYẾN

1 khách và 0 thành viên

THỐNG KÊ

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • ẢNH NGẪU NHIÊN

    17.jpg Z7085579837972_b0cd7bfae21e5ac1a00b9b761fc26c0e.jpg 1.jpg 25.jpg 19.jpg Z7079828837604_946a742ef1e77bc518079d82735cebc7.jpg Z7085579777911_7e480204bd967a20d15a600c508d70ef.jpg Z7016220095055_e6bd00ea5c471793cdc2d2622c958658.jpg Z6012777697181_2f33b9cc111e591016e9443b989f9a52.jpg Z6017056105535_6cb7407075206724b84e84aaf67ac816.jpg Z5930327428287_74398d954de0c74157264bcf1437235f.jpg Z5902199584322_8f121b2728caac9f7aa33da7949f7f82.jpg Z5925195984635_ba10b4ad540dadd7b625dee70ce72875.jpg Z6066037246557_1ba9f430d7add6969df0623d917030bf.jpg Z6052405665623_30c033fe3d1ded6f6575fa048c487d8b.jpg TL_GD_ATGT_LOP_15.jpg Z5953841713823_481069afa7054ffce8c8880f690a819a.jpg Z5902199502171_0ad3a90b27070b9aaa800c8a5e6aa4bd.jpg Z5930246211462_bb87f26952b7884c89e447df4894dc45.jpg Z5950623490464_c80c51b11d704e2979dff79593dc853b.jpg

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tồ chức Ngày sách và Văn hóa đọc Việt Nam

    Đại Việt sử ký toàn thư

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Sưu tầm
    Người gửi: Đỗ Thị Tuyền
    Ngày gửi: 21h:58' 03-11-2024
    Dung lượng: 5.0 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
    nhiều tác giả
    Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động

    Nguồn: http://vnthuquan.net

    Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.


    https://thuviensach.vn

    Mục lục
    Mục Lục


    LỜI GIỚI THIỆU


    LỜI NHÀ XUẤT BẢN


    Đại cương


    Ngoại Kỷ Toàn Thư Q 1


    Ngoại Kỷ Toàn Thư Q 2


    Ngoại Kỷ Toàn Thư Q 3


    Ngoại Kỷ Toàn Thư Q 4


    Ngoại Kỷ Toàn Thư Q 5


    Bản Kỷ Toàn Thư Q 1(a)


    Bản Kỷ Toàn Thư Q 1(b)


    Bản Kỷ Toàn Thư Q2(a)


    Bản Kỷ Toàn Thư Q2(b)


    Bản Kỷ Toàn Thư Q3(a)


    Bản Kỷ Toàn Thư Q3(b)


    Bản Kỷ Toàn Thư Q4(a)


    Bản Kỷ Toàn Thư Q4(b)


    Bản Kỷ Toàn Thư Q5(a)


    Bản Kỷ Toàn Thư Q5(b)


    Bản Kỷ Toàn Thư Q5(c)


    Bản Kỷ Toàn Thư Q6(a)


    Bản Kỷ Toàn Thư Q6(b)


    Bản Kỷ Toàn Thư 7


    Bản Kỷ Toàn Thư Q8


    Bản Kỷ Toàn Thư Q9


    Bản Kỷ Toàn Thư Q10 (a)


    Bản Kỷ Toàn Thư Q10 (b)


    https://thuviensach.vn

    Bản kỷ thực lục Q1(a)


    Bản kỷ thực lục Q1(b)


    Bản kỷ thực lục Q2(a)


    Bản kỷ thực lục Q2(b)


    Bản kỷ thực lục Q3(a)


    Bản kỷ thực lục Q3(b)


    Bản kỷ thực lục Q4


    Bản kỷ thực lục Q5(a)


    Bản kỷ thực lục Q5(b)


    Bản kỷ thực lục Q6


    Bản Kỷ Tục Biên Q1 (a)


    Bản Kỷ Tục Biên Q1 (b)


    Bản Kỷ Tục Biên Q2


    Bản Kỷ Tục Biên Q3


    Bản Kỷ Tục Biên Q4


    Bản Kỷ Tục Biên Q5


    Bản Kỷ Tục Biên Q6



    https://thuviensach.vn

    nhiều tác giả
    Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
    Mục Lục
    Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên... soạn thảo (1272 - 1697).

    Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam dịch (1985 - 1992).

    Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội (Hà Nội) ấn hành (1993).

     

    https://thuviensach.vn

     

    https://thuviensach.vn

    nhiều tác giả
    Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
    LỜI GIỚI THIỆU
    Nguyễn Khánh Toàn

    Một dân tộc có nền văn hóa lâu đời bao giờ cũng trọng thị, giữ gìn coi như
    thiêng liêng những di tích của nó, đặc biệt là dấu tích của những sự nghiệp
    anh hùng và quang vinh của ông cha, nòi giống, những gì nhắc lại những
    kỳ công của các bậc tiền bối trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, vì đời
    sống ấm no, hạnh phúc của các thế hệ đã qua.

    Về phương diện ấy, những cái gọi là di sản văn hóa, tuy thuộc về quá khứ
    của một dĩ vảng không bao giờ trở lại, nhưng nó vẫn sống bởi vì những cái
    chúng ta làm hôm nay, trong đời sống vật chất cũng như trong đời sống tinh
    thần, là tiếp tục cái hôm qua.

    Trong các loại di sản văn hóa của dân tộc, hiện nay chúng ta cần đặc biệt
    quan tâm đến các loại sách cổ về đất nước và con người, về văn hóa, xã
    hội, nhất là về lịch sử nước ta.

    Có sự mâu thuẫn lạ đời này, là dân tộc ta có một lịch sử lâu đời với một nền
    văn hóa độc đáo mà nhân dân ta từ bao đời, với bàn tay và khối óc của
    mình, đã tự xây dựng lấy, nhưng chỉ cách đây tám, chín trăm năm, mới có
    người Việt viết về lịch sử đất nước mình. Còn trước đó, trong các sách của
    người Tàu viết, chỉ thỉnh thoảng họ mới nói đến cái đất nước của một dân
    tộc "man di" gọi là Giao chỉ, một mảnh đất hầu như hoang vu, con người
    còn sống sơ khai, cần phải được "Thiên Triều" "giáo hóa".

    Vì thế mà trong suốt cả một thời gian lịch sử rất dài - hai, ba nghìn năm,
    dân tộc Việt Nam phải liên tục đấu tranh chống họa xâm lược của nước
    ngoài. Chíh trong cuộc đấu tranh đầy hy sinh gian khổ, nhưng anh hùng bất
    khuất ấy mà dân tộc ta xây dựng và phát triển nền văn hóa độc đáo và xán
    lạn của mình, tiêu biểu là nền văn hóa Đại Việt thời Lý, Trần, Lê.

    Cho nên, rất dễ hiều, cách đây tám, chín trăm năm, khi lịch sử nước ta đi
    vào kỷ nguyên Đại Việt, xuất hiện những nhà sử học lớn như Lê Văn Hưu,
    Ngô Sĩ Liên.

    https://thuviensach.vn

    Đối với thời kỳ lừng danh như thời Đại Việt, nó là cả một bản anh hùng ca,
    cái gì có liên quan đến nó, dẫu là một câu, một dòng chữ tự tay nhân vật đã
    sống hoặc đã chứng kiến những giờ phút huy hoàng viết ra, mà ta được đọc
    hay được nghe, đều là tiếng nói thân thiết từ ngàn xưa vọng lại, làm rung
    động tâm hồn của chúng ta biết bao.

    Cho nên, việc đáng mừng là chúng ta đã tìm lại đợc bản in xưa nhất của bộ
    Đại Việt sử ký toàn thư. Đó là bản in theo ván khắc năm Chính Hoà thứ 18,
    tức năm 1697, mà trước đây tưởng như không hy vọng tìm thấy. Còn những
    bản in chúng ta vẫn thường dùng là những bản in sau đó, vào đời Nguyễn.

    Đại Việt sử ký toàn thư là một thành tựu của nền văn hóa Đại Việt. Nó là
    một công trình biên soạn lịch sử đồ sộ của nhiều nhà sử học nổi tiếng của
    nước ta, từ Lê Văn Hưu đời Trần, qua Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, đến
    Phạm Công Trứ, Lê Hy đời Lê.

    Bộ sự được đặt cơ sở đầu tiên với Đại Việt sử ký toàn thư 30 quyền của Lê
    Văn Hưu, viết xong năm 1272, trong thời kỳ chiến đấu oanh liệt chống
    quân xâm lược Mông - Nguyên. Nó được tiếp tục với Phan Phu Tiên, Ngô
    Sĩ Liên thế kỷ XV, trong giai đoạn phát triển cao nhất của nền văn hóa Đại
    Việt, giao đoạn của vũ công chống Minh, của Đại Cáo Bình Ngô, của chủ
    nghĩa yêu nước hoàn chỉnhv à tiên tiến của Nguyễn Trãi. Nó được hoàn
    thành và công bố năm 1697, biên chép lịch sử dân tộc từ buổi đầu dựng
    nước cho đến năm 1675.

    Một công trình sử học được xây dựng trong bối cảnh lịch sử như thế hẳn
    mang hơi thở của thời đại, phản ánh được tương đối chính xác và đầy đủ
    thực tế hào hùng của đất nước. Và điều chắc chắn, nó là kho tư liệu phong
    phú không những cần thiết cho ngành sử học mà còn giúp ích cho nhiều
    ngành khoa học xã hội khác nữa.

    Bộ Đại Việt sử ký toàn thư là một di sản vô giá của văn hóa dân tộc.

    Tôi xin trân trọng giới thiệu với các nhà khoa học trong và ngoài nước, với
    tất cả bạn đọc, bản dịch Đại Việt sử ký toàn thư dựa trên ván khắc năm
    1697 kèm theo chú giải, sách dẫn và bản chụp nguyên văn chữ Hán.

    Tôi hy vọng công trình xuất bản này sẽ đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu
    của các nhà sử học, các nhà khoa học thuộc nhiều ngành khoa học xã hội
    https://thuviensach.vn

    trong nước, các nhà Việt Nam học trên thế giới và tất cả những ai muốn tìm
    hiểu nghiên cứu lịch sử Việt Nam.

    https://thuviensach.vn

    nhiều tác giả
    Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    Năm 1967, Nhà xuất bản Khoa Học xã hội đã xuất bản bộ Đại Việt sử ký
    toàn thư gồm 4 tập do nhà Hán học Cao Huy Giu dịch và Giáo sư Đào Duy
    Anh hiệu đính. Đó là một bộ sử lớn, có giá trị, được biên soạn qua nhiều
    đời, gắn liền với tên tuổi của những nhà sử học nổi tiếng ngày xưa như Lê
    Văn Hưu thế kỷ XIII, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên thế kỷ XV, Phạm Công
    Trứ, Lê Hy thế kỷ XVII.

    Năm 1971, bộ sử đó được tái bản lần thứ hai, có sửa chữa và bổ sung. Sau
    đó một thời gian, nhiều bạn đọc yêu thích lịch sử dân tộc, nhiều nhà sử học,
    nhiều cán bộ nghiên cứu và giảng dạy thuộc nhiều ngành, nhiều cơ quan đã
    yêu cầu chúng tôi tái bản lần thứ ba bộ sử ấy.

    Giữa lúc đó thì Giáo sư sử học Phan Huy Lê, sau chuyến đi công tác ở
    Pháp về, cho chúng tôi biết việc phát hiện ra bản in xưa nhất của bộ Đại
    Việt sử ký toàn thư, bản Nội các quan bản, và vui lòng cho chúng tôi sử
    dụng bản sao chụp bản in ấy do Giáo sư đem về nước. Đấy là bản in theo
    ván khắc năm Chính Hoà thứ 18, tức năm 1697, còn được lưu giữ tại Thư
    viện của Hội Á Châu ở Paris.

    Năm 1985, theo đề nghị của Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, bà C.
    Rageau, Giám đốc Thư Viện Trường Viễn Đông bác cổ (EFFO), đã đem
    sang tặng Việt Nam bộ vi phim (microfilm) bản in Nội các quan bản của
    Đại Việt sử ký toàn thư đang lưu giữ ở Paris và đồng ý cho Việt Nam được
    toàn quyền sử dụng văn bản này.

    Chúng tôi đã báo cáo lên Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Khoa
    học xã hội Việt Nam hiện nay) và đề nghị cho tổ chức nghiên cứu, phiên
    dịch và xuất bản kịp thời bộ Đại Việt sử ký toàn thư căn cứ trên bản in Nội
    các quan bản được in từ ván khắc năm Chính Hoà 18 (1697). Sau khi đề
    nghị trên được chấp nhận, một Hội đồng chỉ đạo đã được thành lập, gồm:


    https://thuviensach.vn

    Chủ tịch:


    - Giáo sư Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn


    Ủy viên:


    - Giáo sư sử học Phan Huy Lê,


     
    - Giám đốc kiêm Tổng biên tập Nhà xuất bản Khoa học xã hội Phạm Hựu

    Sau khi ông Phạm Hựu nghỉ hưu, ông Nguyễn Đức Diệu giữ chức Giám
    đốc kiêm Tổng biên tập Nhà xuất bản Khoa học xãhội đã tham gia Hội
    đồng chỉ đạo với cương vị ủy viên thay thế ông Phạm Hựu.

    Đại Việt sử ký toàn thư là một bộ sử có giá trị về nhiều mặt, là một di sản
    qúy báu của nền văn hoá dân tộc. Dưới sự chỉ đạo của Hội đồng, chúng tôi
    thấy có nhiệm vụ phải cố gắng làm sao để cho công trình xuất bản này
    xứng đáng với vị trí và giá trị của bộ sử. Về mặt phiên dịch, chúng tôi có
    tham khảo và kế thừa bản dịch cũ, nhưng phải dịch lại trực tiếp từ văn bản
    mới phát hiện. Chúng tôi cũng mong muốn bản dịch mới tiếp thu những
    thành tựu mới về ngôn ngữ tiếng Việt và dịch thuật chữ Hán trong thời gian
    gần đây, vừa tôn trọng ở mức độ cao nhất nội dung và phong cách của bộ
    sử đã ra đời cách đây gần 300 năm, vừa làm cho bạn đọc dù không biết chữ
    Hán vẫn hiểu đợc nội dung bộ sử đến mức tốt nhất.

    Công trình xuất bản Đại Việt sử ký toàn thư gồm 4 tập:

    Tập I gồm Lời Nhà xuất bản Khoa học xãhội, Lời giới thiệu của Giáo sư
    Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn, bài Khảo cứu về "Đại Việt sử ký toàn thư: tác
    giả - văn bản - tác phẩm" của Giáo sư Phan Huy Lê và bản dịch phần đầu
    Đại Việt sử ký toàn thư gồm Quyển thủ, Ngoại kỷ Q. 1 - 5, Bản kỷ Q 1 - 4,
    do nhà nghiên cứu Hán Nôm Ngô Đức Thọ dịch, chú giải, và Giáo sư Hà
    Văn Tấn hiệu đính.

    https://thuviensach.vn

    Tập II gồm phần dịch và chú giải Bản kỷ Q.5 - 13 do nhà nghiên cứu Hán
    Nôm Hoàng Văn Lâu dịch, Giáo sư Hà Văn Tấn hiệu đính.

    Tập III gồm phần dịch và chú giải Bản kỷ Q.14 - 19 do nhà nghiên cứu Hán
    Nôm Hoàng Văn Lâu dịch, Giáo sư Hà Văn Tấn hiệu đính và phần Phụ lục
    với bản dịch Đại Việt sử ký tục biên Q.20 - 21 của Phạm Công Trứ do nhà
    nghiên cứu Hán Nôm Ngô Thế Long thực hiện và Sách dẫn để tra cứu do
    Bộ môn phương pháp luận sử học thuộc Khoa sử Trường Đại học tổng hợp
    Hà Nội thực hiện.

    Tập IV in lại bản chụp nguyên văn chữ Hán bản in Nội các quan bản bộ
    Đại Việt sử ký toàn thư.

    Tập I đã xuất bản năm 1983, tập II năm 1985, trong điều kiện ấn loát chưa
    được tốt lắm. Vì vậy, theo quyết định của Hội đồng chỉ đạo, năm 1992
    chúng tôi in lại tập I, tập II có sửa chữa và in tiếp tập III, IV.

    Nhà xuất bản Khoa học xã hội xin trân trọng và vui mừng giới thiệu với
    bạn đọc công trình xuất bản bộ Đại Việt sử ký toàn thư.

    Nhân đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Hội đồng chỉ đạo do Giáo sư
    Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn làm Chủ tịch, cảm ơn sự tin cậy và cộng tác
    tích cực của Giáo sư Phan Huy Lê, Giáo sư Hà Văn Tấn, sự làm việc hết
    lòng của các nhà nghiên cứu Hán Nôm Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu,
    Ngô Thế Long và các cán bộ biên tập Lê Văn Quýnh, Nguyễn Duy Chiếm.

    Cũng nhân dịp bộ Đại Việt sử ký toàn thư ra mắt, chúng tôi xin trân trọng
    cảm ơn Thư viện Hội Á Châu, Trường Viễn Đông bác cổ, Trường Đại học
    Paris VII, Hội Khoa học xã hội của người Việt Nam tại Pháp và Giáo sư sử
    học lão thành Hoàng Xuân Hãn, nhà nghiên cứu Hán Nôm Tạ Trọng Hiệp,
    các nhà khoa học người Việt Nam tại Pháp ở Paris trước đây đã nhiệt tình
    giúp đỡ Giáo sư Phan Huy Lê trong việc nghiên cứu và sao chụp bản Đại
    Việt sử ký toàn thư ở Pháp, nay tiếp tục giúp đỡ chúng tôi trong việc chụp
    lại và công bố văn bản đó, chúng tôi trân trọng cảm ơn bà Vân Bùi Mộng
    Hùng, Giám đốc Nhà xuất bản Chân Mây Médiapoly đã hết lòng cộng tác
    giúp đỡ chúng tôi sao chụp và thu nhỏ, làm chế bản in Nội các quan bản bộ
    Đại Việt sử ký toàn thư để xuất bản tập IV.

    Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam, nhà
    https://thuviensach.vn

    thơ Cù Huy Cận đã quan tâm giúp đỡ chúng tôi và đặc biệt trân trọng cảm
    ơn ông Tổng Giám đốc UNESCO (Paris) đã tài trợ cho công trình xuất bản
    bộ Đại Việt sử ký toàn thư này, nhằm bảo vệ và phát huy một di sản quý giá
    của nền văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam.

    https://thuviensach.vn

    nhiều tác giả
    Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
    Đại cương
    TÁC GIẢ - VĂN BẢN - TÁC PHẨM
    PHAN HUY LÊ

    I. QUÁ TRÌNH BIÊN SOẠN VÀ TÁC GIẢ

    Bộ Đại Việt sử ký toàn thư còn lại đến ngày nay là một bộ Quốc sử lớn, có
    giá trị, lần đầu tiên được khắc in toàn bộ và công bố vào năm Đinh Sửu,
    niên hiệu Chính Hoà thứ 18, triều Lê Hy Tông, tức năm 1697. Trong lời tựa
    của lần xuất bản đó - gọi là Tựa Đại Việt sử ký tục biên - nhóm biên soạn
    đứng đầu là Tham tụng, Hình bộ thượng thư tri Trung thư giám Lê Hy, cho
    biết bộ Quốc sử này là kết quả của một quá trình biên soạn, tu bổ qua nhiều
    đời: "Nước Việt ta, sử ký các đời do các tiên hiền Lê Văn Hưu, Phan Phu
    Tiên làm ra trước, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh soạn tiếp sau, đến đời Lê Huyền
    Tông (1663 - 1671) sai bọn tể thần Phạm Công Trứ tham khảo sử cũ như sử
    ký ngoại kỷ, Bản kỷ toàn thư, Bản kỷ thực lục đều y theo danh lệ của các
    sử trước, lại tham xét biên soạn từ quốc triều Trang Tông Dụ Hoàng đế
    (1533 - 1548) "sai bọn khảo thần khảo đính sử cũ, chỗ nào sai thì sửa lại,
    chỗ nào đúng thì chép lấy Lại sưu tầm sự tích cũ, tham khảo các dã sử, loại
    biên, [biên sọan] từ Huyền Tông Mục Hoàng Đế năm Đức Nguyên thứ 2
    (1675), tất cả sự thực trong 13 năm, cũng gọi là Bản kỷ tục biên. Sách làm
    xong, dâng lên ngự lãm, bèn sai thợ khắc in, ban bố trong thiên hạ" (Quyển
    thủ, Đại Việt sử ký tục biên tự, 1b - 3b).

    Như vậy, bộ Đại Việt sử ký toàn thư là một công trình tập đại thành nhiều
    bộ sử do nhiều nhà sử học của các đời biên soạn, từ Lê Văn Hưu đời Trần,
    qua Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh đời Lê sơ, đến Phạm Công
    Trứ, Lê Hy đời Lê Trung hưng, cùng những người cộng sự với họ. Theo
    bản in từ ván khắc năm Chính Hoà 18 (1697) mang danh hiệu bản in Nội
    các quan bản - từ đây gọi tắt là bản Chính Hoà - bộ sử này gồm quyển thủ
    24 quyển, biên chép một cách hệ thống lịch sử dân tộc từ họ Hồng Bàng
    đến năm 1675.

    https://thuviensach.vn

    Bố cục của bộ sử như sau:

    Quyển thủ: gồm các Lời tựa của Lê Hy, Phạm Công Trứ, Ngô Sĩ
    Liên, Biểu dâng sách của Ngô Sĩ Liên, Phạm lệ, Kỷ niên mục lục và
    bài Việt giám thông khảo tổng luận của Lê Trung.

    Ngoại kỷ: gồm 5 quyển, từ họ Hồng Bàng đến các Sứ quân.

    Quyển 1: kỷ họ Hồng Bàng, kỷ họ Thục

    Quyển 2: kỷ họ Triệu

    Quyển 3: kỷ thuộc Tây Hán, kỷ Trưng Nữ Vương, kỷ thuộc Đông
    Hán, kỷ Sĩ Vương

    Quyển 4: kỷ thuộc Ngô-Tấn-Tống-Tề-Lương, kỷ tiền Lý kỷ Triệu
    Việt vương, kỷ Hậu lý

    Quyển 5: kỷ thuộc Tùy - Đường, ký họ Ngô
    Bản kỷ: gồm 19 quyển, từ triều đình đến năm 1675.

    Quyển 1: kỷ nhà Đinh, kỷ nhà Lê

    Quyển 2: kỷ nhà Lý: Thái Tổ, Thái Tông

    Quyển 3: Thánh Tông, Nhân Tông

    Quyển 4: Anh Tông, Cao Tông, Huệ Tông, Chiêu Hoàng

    Quyền 5: kỷ nhà Trần, Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông

    Quyển 6: Anh Tông, Minh Tông

    Quyển 7: Hiến Tông, Dụ Tông, Nghệ Tông, Duệ Tông

    Quyển 8: Phế Đế, Thuận Tông, Thiếu Đế, Hồ Quý Ly, Hồ Hán
    Thương

    Quyển 9: kỷ Hậu Trần, kỷ thuộc Minh

    Quyển 10: kỷ Lê Hoàng Triều: Thái Tổ

    Quyển 11: Thái Tông, Nhân Tông

    Quyển 12: Thánh Tông (thượng)

    Quyển 13: Thánh Tông (hạ)

    https://thuviensach.vn

    Quyển 14: Hiến Tông, Túc Tông, Uy Mục

    Quyển 15: Tương Dực, Đà Vương, Cung Hoàng, Mạc Đăng
    Dung, Mạc Đăng Khanh

    Quyển 16: Trang Tông, Trung Tông, Anh Tông, Mạc Đăng
    Doanh đến Mạc Mậu Hợp

    Quyển 17: Thế Tông, Mạc Mậu Hợp

    Quyển 18: Kính Tông, Chân Tông, Thần Tông

    Quyển 19: Huyền Tông, Gia Tông

    19 quyển Bản kỷ lại chia làm 3 phần:


    Bản kỷ toàn thư: từ quyền 1 đến quyển 10

    Bản kỷ thực lục: từ quyển 11 đến quyển 15

    Bản kỷ tục biên: từ quyển 16 đến quyển 19

    Bộ Đại Việt sử ký toàn thư với bố cục như trên đã được hoàn thành,
    khắc in và công bố vào năm 1697.

    Một vấn đề khoa học được đặt ra là quá trình biên soạn từ Lê Văn Hưu
    đến Lê Hy diễn ra như thế nào, những ai đã tham gia vào công trình
    đó, đóng góp của mỗi người (haymỗi nhóm) ra sao và để lại dấu ấn gì
    trong bộ quốc sử cón lại đến ngày nay?

    Muốn giải đáp vấn đề trên, chúng ta hãy lấy bộ Đại Việt sử ký toàn
    thư đời Chính Hoà làm cơ sở và ngược dòng thời gian, nghiên cứu
    những bộ sử tiền thân của nó, bắt đầu từ Đại Việt sử ký của Lê Văn
    Hưu đời Trần.

    https://thuviensach.vn

    nhiều tác giả
    Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
    Ngoại Kỷ Toàn Thư Q 1
    Hồng Bàng, An Dương Vương
    [1a] Triều Liệt Đại Phu, Quốc Tử Giám Tư Nghiệp, Kiêm Sử Quan Tu
    Soạn, Thần Ngô Sĩ Liên Biên

    Xét: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây
    Nam, xa ngoài đất Bách Việt. Vua Nghiêu sai Hy thị1đến ở Nam Giao2để
    định đất Giao Chỉ ở phương Nam. Vua Vũ chia chín châu3thì Bách
    Việt4thuộc phần đất châu Dương, Giao Chỉ thuộc về đấy. Từ đời Thành
    Vương nhà Chu [1063-1026 TCN] mới gọi là Việt Thường thị5, tên Việt bắt
    đầu có từ đấy.

    Kỷ Hồng Bàng Thị

    Kinh Dương Vương

    [1b] Tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông6.

    Nhâm Tuất, năm thứ 17. Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế
    Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ
    Lĩnh8lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua [Kinh Dương Vương]. Vua là bậc
    thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố
    nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con
    nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương,
    cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.

    Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long9sinh ra Lạc Long Quân
    (Xét: Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng
    là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết
    thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động
    Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi).

    Lạc Long Quân

    [2a] Tên húy là Sùng Lãm, con của Kinh Dương Vương.

    Vua lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh

    https://thuviensach.vn

    trăm trứng), là tổ của Bách Việt. Một hôm, vua bảo Âu Cơ rằng: "Ta là
    giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó".
    Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền
    Nam (có bản chép là về Nam Hải), phong cho con trưởng làm Hùng
    Vương, nối ngôi vua.

    Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Khi trời đất mới mở mang, có thứ do khí hóa ra,
    đó là Bàn Cổ thị. Có khí hóa ra rồi sau có hình hóa, không thứ gì ngoài hai
    khí âm dương cả. Kinh Dịch nói: "Trời đất nung ủ, vạn vật thuần hóa, đực
    cái hợp tinh, vạn vật hóa sinh"10. Cho nên có vợ chồng rồi sau mới có cha
    con, có cha con rồi sau mới có vua tôi. [2b] Nhưng thánh hiền sinh ra, tất
    có khác thường, đó là do mệnh trời. Nuốt trứng chim huyền điểu mà sinh ra
    nhà Thương11, giẫm vết chân người khổng lồ mà dấy nhà Chu12, đều là ghi
    sự thực như thế. Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên
    mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt. Vương lấy con
    gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai
    mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ
    nghiệp của nước Việt ta hay sao? Xét sách Thông Giám Ngoại kỷ (4)13nói:
    Đế Lai là con Đế Nghi; cứ theo sự ghi chép ấy thì Kinh Dương Vương là
    em ruột Đế Nghi, thế mà kết hôn với nhau, có lẽ vì đời ấy còn hoang sơ, lễ
    nhạc chưa đặt mà như thế chăng?

    Hùng Vương

    [3a] Con Lạc Long Quân (không rõ tên húy)14, đóng đô ở Phong Châu (nay
    là huyện Bạch Hạc)15.

    Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (nước này đông giáp biển
    Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn,
    tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam), chia nước làm 15 bộ là: Giao
    Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền,
    Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức;
    đều là đất thần thuộc của Hùng Vương; còn bộ gọi là Văn Lang là nơi vua
    đóng đô16. Đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng (chữ
    Lạc Tướng, sau chép sai là Hùng Tướng17). Con trai vua gọi là Quan Lang,

    https://thuviensach.vn

    con gái vua gọi là Mị Nương. Quan coi việc gọi là Bồ Chính, đời đời cha
    truyền con nối, gọi là phụ đạo. Vua các đời đều gọi là Hùng Vương. Bấy
    giờ dân ở rừng núi thấy ở sông ngòi khe suối đều có tôm cá, nên rủ nhau đi
    bắt cá để ăn, thường bị thuồng luồng làm hại, [3b] đến thưa với vua. Vua
    nói: "Người man ở núi khác với các loài thủy tộc; các thủy tộc ấy ưa cùng
    loài mà ghét khác loài, cho nên mới bị chúng làm hại. Rồi vua bảo mọi
    người lấy mực vẽ hình thủy quái ở mình. Từ đấy thuồng luồng trông thấy
    không cắn hại nữa. Tục vẽ mình của người Bách Việt có lẽ bắt đầu từ đấy.

    Đời Hùng Vương thứ 6, ở hương Phù Đổng, bộ Vũ Ninh có người nhà
    giàu, sinh một con trai, đến năm hơn ba tuổi ăn uống béo lớn nhưng không
    biết nói cười. Gặp lúc trong nước có tin nguy cấp, vua sai người đi tìm
    người có thể đánh lui được giặc. Ngày hôm ấy, đứa trẻ bỗng nói được, bảo
    mẹ ra mời thiên sứ vào, nói: "Xin cho một thanh gươm, một con ngựa, vua
    không phải lo gì". Vua ban cho gươm và ngựa, đứa trẻ liền phi ngựa vung
    gươm tiến lên trước, quan quân theo sau, đánh tan quân giặc ở chân núi Vũ
    Ninh18. Quân giặc tự quay giáo đánh lẫn nhau, chết rất nhiều, bọn sống sót
    đều rạp lạy, tôn gọi đứa trẻ ấy là thiên tướng, liền đến xin hàng cả. Đứa trẻ
    phi ngựa [4a] lên trời mà đi. Vua sai sửa sang chỗ vường nhà của đứa trẻ để
    lập đền thờ, tuế thời cúng tế. Về sau, Lý Thái Tổ phong là Xung Thiên
    Thần Vương. (Đền thờ ở cạnh chùa Kiến Sơ, hương Phù Đổng).

    Thời Thành Vương nhà Chu [1063-1026 TCN], nước Việt ta lần đầu sang
    thăm nhà Chu (không rõ vào đời Hùng Vương thứ mấy), xưng là Việt
    Thường thị, hiến chim trĩ trắng. Chu Công nói: "Chính lệnh không ban đến
    thì người quân tử không coi người ta là bề tôi của mình", rồi sai làm xe chỉ
    nam đưa sứ giả về nước.

    Cuối thời Hùng Vương, vua có con gái gọi là Mị Nương, nhan sắc xinh
    đẹp. Thục Vương nghe tiếng, đến cầu hôn. Vua muốn gả, nhưng Hùng hầu
    can rằng: "Họ muốn chiếm nước ta, chỉ lấy việc hôn nhân làm cớ mà thôi".
    Thục Vương vì chuyện ấy để bụng oán giận. Vua muốn tìm người xứng
    đáng để gả, bảo các bề tôi rằng: "Đứa con gái này là giống tiên, người nào
    có đủ tài đức mới cho làm rể". Bấy giờ có hai người từ ngoài đến, lạy dưới

    https://thuviensach.vn

    sân để cầu hôn. Vua lấy làm lạ, hỏi thì họ thưa rằng một người là [4b] Sơn
    Tinh, một người là Thủy Tinh, đều ở trong cõi cả, nghe nhà vua có thánh
    nữ, đánh bạo đến xin lĩnh mệnh. Vua nói: "Ta có một người con gái, lẽ nào
    lại được cả hai rể hiền?". Bèn hẹn đến ngày hôm sau, ai đem đủ sính lễ đến
    trước thì gả cho người ấy. Hai người vâng lời, lạy tạ ra về. Hôm sau, Sơn
    Tinh đem các đồ châu báu vàng bạc, chim núi thú rừng đến dâng. Vua y
    hẹn gả con cho. Sơn Tinh đón vợ về ở ngọn núi cao trên núi Tản Viên.
    Thủy Tinh cũng đem sính lễ đến sau, giận tiếc là không kịp, bèn kéo mây
    làm mưa, dâng nước tràn ngập, đem các loài thủy tộc đuổi theo. Vua cùng
    Sơn Tinh lấy lưới sắt chăng ngang thượng lưu sông Từ Liêm19để chặn lại.
    Thủy Tinh theo sông khác, từ Ly Nhân vào chân núi Quảng Oai20rồi theo
    dọc bờ lên cửa sông Hát, ra sông lớn21mà rẽ vào sông Đà để đánh Tản
    Viên, nơi nơi đào sâu thành vực thành chằm, chứa nước để mưu đánh úp.
    Sơn Tinh có phép thần biến hóa, gọi [5a]22người man đan tre làm rào chắn
    nước, lấy nỏ bắn xuống, các loài có vẩy và có vỏ trúng tên đều chạy trốn
    cả. Rốt cuộc Thủy Tinh không thể xâm phạm được núi Tản Viên. (Tục
    truyền Sơn Tinh và Thủy Tinh từ đấy về sau đời đời thù oán, mỗi năm mùa
    nước to thường vẫn đánh nhau).

    Núi Tản Viên là dãy núi cao của nước Việt ta, sự linh thiêng rất ứng
    nghiệm. Mị Nương đã lấy Sơn Tinh, Thục Vương tức giận, dặn lại con
    cháu phải diệt Văn Lang mà chiếm lấy nước. Đến đời cháu là Thục Phán có
    dũng lược, bèn đánh lấy nước.

    Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Thời Hùng Vương đặt chư hầu để làm phên giậu,
    chia nước làm 15 bộ. Ở 15 bộ ấy đều có trưởng và tá. Vua theo thứ bậc cắt
    đặt các con thứ để cai trị. Nói 50 con theo mẹ về núi, làm sao biết không
    phải là như thế? Vì mẹ làm quân trưởng, các con đều làm chúa một
    phương. Cứ xem như tù trưởng người man ngày nay xưng là nam phụ đạo,
    [5b] nữ phụ đạo (nay bản triều đổi chữ phụ đạo ___ ___ thành chữ phụ đạo
    ___ ___ thì có lẽ đúng như thế). Còn như việc Sơn Tinh, Thủy Tinh thì rất
    là quái đản, tin sách chẳng bằng không có sách, hãy tạm thuật lại chuyện cũ
    để truyền lại sự nghi ngờ thôi).


    https://thuviensach.vn

    Trở lên là [kỷ] Hồng Bàng thị, từ Kinh Dương Vương được phong năm
    Nhâm Tuất, cùng thời với Đế Nghi, truyền đến cuối thời vua Hùng Vương,
    ngang với đời Noãn Vương nhà Chu năm thứ 57 [258 TCN] là năm Quý
    Mão thì hết, tất cả 2.622 năm [2879 - 258 TCN].

    Kỷ Nhà Thục

    An Dương Vương

    Họ Thục, tên húy là Phán, người Ba Thục23, ở ngôi 50 năm, đóng đô ở
    Phong Khê (nay là thành Cổ Loa).

    [6a] Giáp Thìn, năm thứ 1 [257 TCN], (Chu Noãn Vương năm thứ 58). Vua
    đã thôn tính được nước Văn Lang, đổi quốc hiệu là Âu Lạc. Trước kia vua
    nhiều lần đem quân đánh Hùng Vương, nhưng Hùng Vương binh hùng
    tướng mạnh, vua bị thua mãi. Hùng Vương bảo vua rằng: "Ta có sức thần,
    nước Thục không sợ ư ?" Rồi Hùng Vương bỏ không sửa sang võ bị, chỉ
    ham ăn uống vui chơi. Quân Thục kéo sát đến nơi, hãy còn say mềm chưa
    tỉnh, rồi thổ huyết nhảy xuống giếng chết, quân lính quay giáo đầu hàng
    Thục Vương.

    Bấy giờ Thục Vương đắp thành ở Việt Thường, rộng nghìn trượng, cuốn
    tròn như hình con ốc, cho nên gọi là Loa Thành24, lại có tên là thành Tư
    Long (người nhà Đường gọi là thành Côn Lôn, vì thành rất cao25). Thành
    này cứ đắp xong lại sụt, vua lấy làm lo, mới trai giới khấn trời đất và thần
    kỳ núi sông, rồi khởi công đắp lại.

    Bính Ngọ, năm thứ 3 [255 TCN], (Động Chu Quân năm thứ 1). Mùa xuân,
    tháng 3, chợt có thần nhân đến cửa thành, trỏ [6b] vào thành, cười mà nói
    rằng: "Đắp đến bao giờ cho xong!". Vua mời vào điện hỏi, thần nhân trả
    lời: "Cứ đợi giang sứ đến". Rồi cáo từ đi ngay. Sáng hôm sau, vua ra cửa
    thành, quả thấy có con rùa vàng bơi trên sông từ phía đông đến, xưng là
    giang sứ, nói được tiếng người, bàn được việc tương lai. Vua mừng lắm, để
    vào mâm vàng, đặt mâm lên trên điện. Vua hỏi về nguyên do thành sụp, rùa
    vàng đáp: "Đó là do tinh khí núi sông vùng này bị con vua trước phụ vào để
    báp thù nước, nấp ở núi Thất Diệu. Trong núi có con quỷ, đó là người con
    hát thời trước chôn ở đấy hóa làm quỷ. Cạnh núi có cái quán, chủ quán tên

    https://thuviensach.vn

    là Ngộ Không, có một đứa con gái và một con gà trắng, đó là dư khí của
    tinh, phàm người qua lại ngủ đêm ở đấy đều phải chết vì bị quỷ làm hại.
    Chúng có thể gọi nhau họp đàn lũ, làm cho sụp thành. Nếu giết con gà
    trắng để trừ tinh khí ấy, thì thành tự nhiên được [7a] bền vững. Vua đem rùa
    vàng đến quán ấy, giả làm người ngủ trọ. Chủ quán nói: "Ngài là quý nhân,
    xin đi ngay, chớ lưu lại đây mà bị họa". Vua cười nói: "Sống chết có mệnh,
    ma quỷ làm gì nổi ?". Rồi ngủ lại quán. Đến đêm nghe tiếng tinh quỷ từ
    ngoài đến gọi mở cửa, rùa vàng liền quát mắng, quỷ không vào được, đến
    khi gà gáy thì lũ quỷ tan chạy hết. Rùa vàng xin vua đuổi theo. Tới núi Thất
    Diệu thì tinh khí biến mất, vua trở về quán. Sáng sớm, chủ quán tưởng vua
    đã chết rồi, gọi người đến để khâm liệm đem chôn. Thấy vua vẫn vui vẻ
    cười nói, chủ quán liền sụp lạy nói: "Ngài làm sao được như thế, tất phải là
    thánh nhân!". Vua xin con gà trắng giết để tế. Gà chết, con gái chủ quán
    cũng chết theo. Vua liền sai người đào núi, thấy có nhạc khí cổ và xương
    người, đem đốt thành tro, rải xuống sông, yêu khí mới mất hẳn. Từ đấy, đắp
    thành không [7b] quá nửa tháng thì xong. Rùa vàng cáo từ ra về. Vua cảm
    tạ, hỏi rằng: "Đội ơn ngài thành đắp đã vững, nếu có giặc ngoài đến, thì lấy
    gì mà chống giữ ?" Rùa vàng bèn trút chiếc móng trao cho vua và nói:
    "Nước nhà yên hay nguy đều do số trời, nhưng người cũng nên phòng bị;
    nếu có giặc đến thì dùng móng thiêng này làm lẫy nỏ, nhằm vào giặc mà
    bắn thì không phải lo gì". Vua sai bề tôi là Cao Lỗ (có sách chép là Cao
    Thông26) làm nỏ thần, lấy móng rùa làm lẫy, đặt tên là Linh Quang Kim
    Trảo Thần Nỏ.

    Cao Vương nhà Đường [tức Cao Biền] dẹp nước Nam Chiếu, khi đưa quân
    về qua châu Vũ Ninh, đêm nằm chiêm bao thấy có người lạ tự xưng là Cao
    Lỗ, nói: "Ngày xưa giúp An Dương Vương, có công đánh lui giặc, bị Lạc
    hầu gièm pha, phải bỏ đi, sau khi chết, trời thương không có tội gì, ban cho
    một dải núi sông này, cho làm chức quản lĩnh đô thống tướng quân, làm
    chủ mọi việc đánh dẹp giặc giã và mùa màng cày cấy. Nay theo minh công
    đi dẹp yên quân giặc, lại trở về bản bộ, không có lời từ biệt thì không phải
    lễ. Cao Vương thức dậy, nói chuyện lại với liêu thuộc, có làm bài thơ:


    https://thuviensach.vn

    Mỹ hĩ Giao Châu địa,

    Du Du vạn tải lai.

    Cổ hiền năng đắc kiến,

    Chung bất phụ linh đài.

    (Đẹp thay đất Giao Châu,

    Dằng dặc trải muôn thâu.

    Người xưa nay được thấy,

    Hả tấm lòng bấy lâu).

    Nhâm Tý, năm thứ 9 [249 TCN], (Đông Chu Quân năm thứ 7; [bấy giờ có]
    7 nước là Tần, Sở, Yên, Triệu, Ngụy, Hàn, Tề). Năm ấy nhà Chu mất.

    [8a] Canh Thìn, năm thứ 37 [221 TCN], (Tần Thủy Hoàng Lữ Chính năm
    thứ 26). Nước Tần thôn tính cả 6 nước, xưng hoàng đế. Bấy giờ người Từ
    Liêm, Giao Chỉ ta, là Lý Ông Trọng27người cao 2 trượng 3 thước, lúc ít
    tuổi đến hương ấp làm lực dịch, bị trưởng quan đánh, bèn bỏ sang nước
    Tần làm quan đến chức Tư lệ hiệu úy. Thủy Hoàng lấy được thiên hạ, sai
    ông đem quân đóng giữ đất Lâm Thao28, uy danh chấn động nước Hung
    Nô. Khi tuổi già, về làng rồi chết. Thủy Hoàng cho ông là người kỳ lạ, đúc
    đồng làm tượng, để ở cửa Tư Mã ở Hàm Dương, bụng tượng chứa được
    mấy chục người, ngầm lay thì chuyển động được, Hung Nô tưởng đó là
    hiệu úy còn sống, không dám đến xâm phạm (Triệu Xương nhà Đường làm
    đô hộ Giao Châu, đêm thường nằm chiêm bao thấy cùng Ông Trọng giảng
    bàn sách Xuân Thu, Tả Truyện, nhân hỏi chỗ ở cũ, rồi dựng đền thờ. Khi
    Cao Vương đi đánh Nam Chiếu, thần thường hiển linh giúp sức. Cao
    Vương cho sửa lại đền thờ, tạc gỗ làm tượng, gọi là [tượng] Lý hiệu úy. Đề
    ở xã Thụy Hương huyện Từ Liêm)29.

    Đinh Hợi, năm thứ 44 [214 TCN], (Tần Thủy Hoàng năm thứ 33). Nhà Tần
    phát những người trốn tránh, người ở rể [8b] người đi buôn, ở các đạo ra
    làm binh, sai hiệu úy Đồ Thư đem quân lâu thuyền, sai Sử Lộc đào ngòi
    vận lương, đi sâu vào đất Lĩnh Nam, đánh lấy miền đất Lục Dương, đặt các
    quận Quế Lâm (nay là huyện Quý của đất Minh, Quảng Tây)30, Nam Hải
    (nay là tỉnh Quảng Đông) và Tượng Quận (tức là An Nam)31; cho Nhâm

    https://thuviensach.vn

    Ngao32làm Nam Hải úy, Triệu Đà làm Long Xuyên lệnh (Long Xuyên là
    thuộc huyện của Nam Hải), đem những binh phải tội đồ 50 vạn người đến
    đóng đồn ở Ngũ Lĩnh, Ngao và Đà nhân đó mưu xâm chiếm nước ta. (Chuế
    tế: con trai không có tiền nộp sính lễ, lấy thân ở gửi nhà vợ nên gọi là chuế
    tế [ở gửi rể] như cái bướu ở mình người ta, là vật thừa. Lục Lương là người
    Lĩnh Nam phần nhiều ở chỗ núi rừng, trên cạn (lục), tính người mạnh tợn
    (cường lương) nên gọi là Lục Lương).

    Tân Mão, năm thứ 48 [210 TCN], (Tần Thủy Hoàng năm thứ 37). Mùa
    đông, tháng 10, Thần Thủy Hoàng mất ở Sa Khâu. Nhâm Ngao...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách hôm nay, thành công mai sau. (Margaret Fuller)

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TỬ LẠC - KINH MÔN - HẢI DƯƠNG !